La Thị Thảo Vy

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của La Thị Thảo Vy
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a) Có đúng một mặt được sơn ở mỗi mặt, có 4 hình lập phương nhỏ được sơn một mặt (các hình được gạch sọc). Ở sáu mặt có 4 . 6 = 24 (hình)

b) Có đúng hai mặt được sơn ở mỗi cạnh, có 2 hình lập phương được sơn hai mặt (các hình được chấm bi). Ở 12 cạnh có 2. 12 = 24 (hình)

a) Có đúng một mặt được sơn ở mỗi mặt, có 4 hình lập phương nhỏ được sơn một mặt (các hình được gạch sọc). Ở sáu mặt có 4 . 6 = 24 (hình)

b) Có đúng hai mặt được sơn ở mỗi cạnh, có 2 hình lập phương được sơn hai mặt (các hình được chấm bi). Ở 12 cạnh có 2. 12 = 24 (hình)

Truyện ngắn “Bát phở” của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm giàu chất nhân văn, được xây dựng từ một chi tiết rất nhỏ trong đời sống thường nhật – một bát phở. Nhưng đằng sau sự giản dị ấy là một câu chuyện cảm động về tình người, sự sẻ chia, lòng bao dung và cả nỗi cô đơn âm thầm trong cuộc sống đô thị hiện đại. Qua truyện ngắn này, tác giả không chỉ khắc họa được chủ đề giàu ý nghĩa mà còn thể hiện một phong cách nghệ thuật tinh tế, lắng sâu.


Chủ đề nổi bật của truyện ngắn là sự đối lập giữa đời sống vật chất đủ đầy và đời sống tinh thần trống vắng, cô đơn. Bát phở – món ăn quen thuộc và bình dị – trở thành biểu tượng cho lòng tốt, cho sự quan tâm giản dị nhưng sâu sắc giữa những con người xa lạ. Nhân vật bà cụ xuất hiện như một dấu chấm lặng trong cuộc sống hối hả của đô thị. Câu chuyện không có cao trào kịch tính, không có những xung đột gay gắt, nhưng lại gây ấn tượng mạnh bởi chính sự tĩnh lặng của nó – sự tĩnh lặng gợi suy nghĩ về lối sống, về đạo đức và tình người.


Chi tiết “bát phở” trong truyện không chỉ là món ăn để thỏa mãn nhu cầu sinh học, mà còn là phương tiện chuyển tải thông điệp nhân văn sâu sắc: trong một xã hội hiện đại, nơi con người ngày càng trở nên xa cách, khô khan, thì lòng tốt và sự sẻ chia, dù nhỏ nhoi, vẫn luôn có sức lan tỏa, làm ấm lòng người khác. Việc nhân vật “tôi” – một người phụ nữ trí thức sống cô đơn – dành bát phở ngon nhất cho bà cụ ăn xin không phải là sự ban ơn, mà là một hành động chứa đựng tình cảm chân thành và sự đồng cảm. Bà cụ, dù nghèo khổ, vẫn biết ơn và cảm nhận được sự chân tình ấy, điều đó làm nổi bật vẻ đẹp trong tâm hồn những con người bé nhỏ.


Về nghệ thuật, “Bát phở” ghi dấu ấn bởi lối viết nhẹ nhàng, tinh tế và đầy chất thơ. Truyện không cần nhiều lời thoại, không cần bối cảnh cầu kỳ, chỉ với những chi tiết nhỏ – ánh mắt, cử chỉ, bát phở nóng – cũng đủ tạo nên chiều sâu cảm xúc. Cách xây dựng nhân vật cũng rất “đời”: nhân vật chính là một người phụ nữ độc thân, sống một mình trong căn hộ, quen với cuộc sống lặng lẽ – hình ảnh không hiếm trong xã hội hiện đại, nhưng qua ngòi bút của Phong Điệp, nhân vật ấy trở nên gần gũi và đáng trân trọng.


Giọng văn trữ tình, sâu lắng là một trong những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm. Những suy tư, hồi tưởng của nhân vật “tôi” đan xen với dòng chảy của thời gian hiện tại tạo nên sự cộng hưởng về cảm xúc. Nhờ đó, người đọc không chỉ cảm nhận được cái rét mùa đông, cái thơm của bát phở nóng, mà còn thấy được cái ấm áp len vào lòng giữa những buốt giá của đời sống tinh thần.


Tóm lại, “Bát phở” không chỉ là một truyện ngắn giàu cảm xúc mà còn là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng nhưng thấm thía về tình người – thứ gia vị không thể thiếu trong cuộc sống. Bằng lối kể chuyện dung dị, Phong Điệp đã khiến người đọc nhận ra rằng, ngay cả trong sự thờ ơ, lạnh lẽo của xã hội hiện đại, chỉ một bát phở cũng có thể làm ấm cả một trái tim.


Câu 1.

Vấn đề: Văn bản bàn về vẻ đẹp của mùa gặt ở nông thôn miền Bắc qua thơ Nguyễn Duy, đồng thời thể hiện tình cảm, tâm hồn của người nông dân trong thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp.




Câu 2.

Câu văn nêu luận điểm trong đoạn (3):

“Chưa hết, không gian mùa gặt không chỉ được mở ra trên những cánh đồng ban ngày, nó còn hiện lên ở trong thôn xóm buổi đêm.”




Câu 3.

a. Thành phần biệt lập: hình như (thành phần tình thái).

b. Thành phần biệt lập: “của một đồng, công một nén là đây” (thành phần cảm thán).




Câu 4.

Cách trích dẫn: Trích dẫn nguyên văn thơ.

Tác dụng: Giúp tăng tính thuyết phục cho lập luận, làm nổi bật cảm xúc và hình ảnh sinh động của mùa gặt, gợi không gian thơ mộng, chân thực.




Câu 5.

Vai trò:

Các lí lẽ và bằng chứng cho thấy người nông dân không chỉ vui mừng trước thành quả lao động mà còn trăn trở, lo lắng, thể hiện chiều sâu tâm hồn, sự gắn bó với ruộng đồng và lao động sản xuất. Điều này góp phần làm rõ luận điểm về tình cảm “cả nghĩ” của người nông dân trong đoạn (4).




Câu 6.

Điều em thích nhất: Nghệ thuật phân tích tinh tế hình ảnh thơ và cảm xúc người nông dân.

Vì sao: Tác giả sử dụng hình ảnh thơ kết hợp bình giảng giàu cảm xúc, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn vẻ đẹp bình dị mà sâu sắc của mùa gặt và người nông dân.