Đồng Anh Tú

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đồng Anh Tú
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Gọi số tiền điện nhà bác An dùng trong tháng 7 là X(nghìn đồng). Gọi số tiền điện nhà bác Bình dùng trong tháng 7 là Y (nghìn đồng). Lập hệ phương trình: Theo đề bài, tổng số tiền điện hai nhà dùng trong tháng 7 là 500 nghìn đồng, ta có phương trình: X+Y=500 Trong tháng 8, bác An giảm 15% tiền điện, tức là tiết kiệm được 0,15x Bác Bình giảm 10% tiền điện, tức là tiết kiệm được 0,10y Tổng số tiền tiết kiệm được của cả hai nhà là 65 nghìn đồng, ta có phương trình: 0,15x+0,10y=65

Giải hệ phương trình: Ta có hệ phương trình: x+y =500

0,15x+0,10y=65 Nhân phương trình thứ hai với 100 để loại bỏ số thập phân: x+y=500

0,15x+0,10y=6500 Giải hệ phương trình này, ta có thể nhân phương trình thứ nhất với -10, sau đó cộng với phương trình thứ hai: -10x-10y=-5000

15x+10y=6500 Cộng hai phương trình lại: 5x=1500 Suy ra: _x=1500/5=300 Thay x=300 vào phương trình x+y=500

300+y=500 Suy ra: Y=500-300=200 Kết luận: Vậy, trong tháng 7 năm 2024, nhà bác An dùng hết 300 nghìn đồng tiền điện, nhà bác Bình dùng hết 200 nghìn đồng tiền điện.

Lúc đầu đội có 15 xe


Lúc đầu đội có 15 xe


Lúc đầu đội có 15 xe


Lúc đầu đội có 15 xe


Chiếc đĩa tròn được chia làm 6 phần bằng nhau và mỗi phần ghi các số từ _ đến _. Các số chia hết cho 3 trong 1,2,3,4,5,6.là: _3 và 6 Như vậy có 2 phần quạt thỏa mãn yêu cầu. Tổng số phần quạt là 6. Xác suất của một phần quạt bất kỳ được chọn là bằng nhau và bằng 1/6   Tính xác suất: Xác suất để chiếc kim chỉ vào phần quạt có số chia hết cho _:số phần thoả mãn điều kiện/ tổng số phần trên đĩa _=2/6=1/3 Kết luận: Xác suất của biến cố "Chiếc kim chỉ vào phần quạt ghi số chia hết cho 3" là 1/3

.

Tìm tần số ghép nhóm và tần số tương đối ghép nhóm của nhóm [60; 70). Tần số ghép nhóm: Từ biểu đồ, ta thấy tần số của nhóm [60; 70) là 10. Tần số tương đối ghép nhóm: Tổng số người được điều tra là 40. Tần số tương đối của nhóm [60; 70) là: _ hay 25%.

Đạo đức sinh học là gì? Đạo đức sinh học (bioethics) là một lĩnh vực liên ngành nghiên cứu về các vấn đề đạo đức phát sinh trong y học, sinh học, và công nghệ sinh học. Đạo đức sinh học đặt trọng tâm vào việc đưa ra các nguyên tắc và quy định để đảm bảo rằng các hoạt động nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực này được tiến hành một cách có trách nhiệm, tôn trọng quyền lợi của con người, bảo vệ sự sống, và duy trì tính bền vững của môi trường sinh thái. Tại sao cần quan tâm đặc biệt đến vấn đề đạo đức sinh học trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ di truyền? Bảo vệ quyền con người: Công nghệ di truyền có khả năng tác động trực tiếp đến bản chất gien và đời sống của con người. Việc chỉnh sửa gien có thể tạo ra những tranh cãi đạo đức, chẳng hạn như liệu có hợp lý khi can thiệp vào gien của phôi thai và ảnh hưởng đến các thế hệ sau. Tránh lạm dụng và hậu quả tiềm tàng: Các nghiên cứu hoặc ứng dụng công nghệ di truyền nếu không được giám sát chặt chẽ có thể dẫn đến việc lạm dụng, chẳng hạn như sản xuất các "siêu sinh vật" (superhumans) hay phát triển các vũ khí sinh học. Điều này gây ra những nguy cơ đối với nhân loại. Đảm bảo công bằng xã hội: Sự phân chia công nghệ di truyền không hợp lý có thể làm gia tăng bất bình đẳng xã hội. Ví dụ, chỉ những người giàu mới có thể tiếp cận với chỉnh sửa gien đắt đỏ, điều này gây bất công cho những nhóm có hoàn cảnh khó khăn. Bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học: Ứng dụng công nghệ di truyền trong cây trồng hoặc động vật nếu không được kiểm soát cẩn thận có thể phá vỡ cân bằng sinh thái và làm mất đi đa dạng sinh học. Phát triển bền vững và hài hòa: Đạo đức sinh học giúp chúng ta tiến hành nghiên cứu và ứng dụng công nghệ một cách bền vững, nhấn mạnh vào trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai. Kết luận: Quan tâm đến đạo đức sinh học trong công nghệ di truyền là một yếu tố cần thiết để đảm bảo rằng sự phát triển công nghệ không chỉ mang lại lợi ích cho con người mà còn phù hợp với các giá trị đạo đức, bảo vệ môi trường và duy trì sự công bằng trong xã hội.

Quan điểm của Lamarck: Lamarck cho rằng loài hươu cao cổ ban đầu có cổ ngắn. Do nhu cầu sinh tồn (tìm kiếm lá cây trên cao), chúng cố gắng vươn cổ lên cao nhiều lần. Việc vận động này khiến cổ dần dần dài hơn qua từng thế hệ. Lamarck nhấn mạnh vào sự thừa kế đặc tính thu được: tức đặc tính do cá thể rèn luyện hoặc thay đổi trong cuộc sống sẽ được truyền lại cho thế hệ sau. Quan điểm của Darwin: Darwin cho rằng loài hươu cao cổ ban đầu có sự đa dạng tự nhiên về chiều dài cổ (một số hươu có cổ dài hơn, số khác cổ ngắn hơn). Những con hươu cổ dài có lợi thế hơn trong việc tìm kiếm thức ăn từ các cây cao, còn những con cổ ngắn không đủ thức ăn và dần bị đào thải tự nhiên. Theo thời gian, quá trình chọn lọc tự nhiên giữ lại những con hươu cổ dài và loại bỏ những cá thể kém thích nghi. Điểm khác biệt chính: Lamarck đề cao vai trò nỗ lực cá nhân và di truyền đặc tính thu được, trong khi Darwin nhấn mạnh chọn lọc tự nhiên và di truyền tính trạng vốn có giữa các thế hệ.

Nguyên phân duy trì nguyên trạng bộ gen (2n → 2n) và xảy ra trong hầu hết các loại tế bào để tăng trưởng và duy trì mô. Giảm phân làm giảm số lượng NST đi một nửa (2n → n) và sản sinh tế bào sinh dục, đảm bảo đa dạng di truyền qua quá trình tái tổ hợp.