

Nguyễn Minh Kiên
Giới thiệu về bản thân



































Ẩm thực Việt Nam đa dạng, phong phú, mỗi món ăn đều có phong vị riêng.
- Cần biết thưởng thức, cảm nhận vị ngon của các món ăn một cách tinh tế, từ đó yêu văn hóa ẩm thực Việt Nam, có thể quảng bá văn hóa ẩm thực vùng miền nói riêng và ẩm thực Việt Nam nói chung đến mọi người.
- Thể hiện cách nhìn khách quan của nhà văn khi nói về phở gà mà không có sự thiên vị nào.
- Nghệ thuật đòn bẩy của văn chương nằm nâng tầm giá trị của đối tượng. Từ nhận xét món phở gà không phải là sự kết hợp hoàn hảo nhưng về sau với những gì tác giả miêu tả lại thông qua cảm nhận của người dùng thì lại thấy món phở gà thật sự có phong vị riêng, rất đặc biệt.
Kính gửi:.
Họ tên:.
Ngày tháng năm sinh:.
Quê quán:........
Nơi ở hiện nay:...
Công việc chính hiện nay đang đảm nhiệm:
Thời điểm sự việc xảy ra hoặc phát hiện: ngày...........tháng...........năm.
Trình tự diễn biến sự việc:.
Nguyên nhân dẫn đến sự việc xảy ra:.
Tôi hứa sẽ sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm và không tái phạm.
Người viết tường trình
(Kí tên)
Kính gửi:.thầy chủ nhiệm
Họ tên:.nguyễn minh kiên
Ngày tháng năm sinh:.4/12/2013
Quê quán:nghệ an
Nơi ở hiện nay:...hà nội
Công việc chính hiện nay đang đảm nhiệm:báo cáo có 2 bạn đánh nhau
Thời điểm sự việc xảy ra hoặc phát hiện: ngày.....1......tháng.......8....năm.2025
Trình tự diễn biến sự việc:.có 2 bạn đánh nhau trong lớp
Nguyên nhân dẫn đến sự việc xảy ra:.ko biết
Tôi hứa sẽ sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm và không tái phạm.
Người viết tường trình
nguyễn minh kiên
(Kí tên)
1. Mở đầu: Nêu nội dung chính của văn bản "Phương tiện vận chuyển của các dân tộc thiểu số Việt Nam ngày xưa".
2. Nội dung chính:
- Phương tiện vận chuyển của các dân tộc miền núi phía Bắc:
+ Di chuyển bằng cách đi bộ là chính.
+ Một số tộc người sinh sống ở ven sông Đà, sông Mã,... sử dụng thuyền vận chuyển.
+ Người Sán Dìu dùng xe quệt trâu để vận chuyển.
+ Người Mông, Hà Nhì, Dao,... thường dùng sức ngựa để vận chuyển.
- Phương tiện vận chuyển của các dân tộc ở Tây Nguyên:
+ Người Tây Nguyên dùng sức voi, sức ngựa vào việc vận chuyển.
+ Các buôn làng ở ven sông, suối lớn sử dụng thuyền độc mộc.
3. Kết thúc: Phần cuối văn bản là tên các tài liệu tham khảo.
1. Mở đầu: Nêu nội dung chính của văn bản "Ghe xuồng Nam Bộ".
2. Nội dung chính:
- Ghe xuồng Nam Bộ rất đa dạng, phong phú với nhiều kiểu loại, tên gọi khác nhau.
- Các loại xuồng: xuồng ba lá, xuồng tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc, xuồng máy gắn máy.
- Các loại ghe: ghe bầu, ghe lồng, ghe chài, ghe cào tôm, ghe ngo, ghe hầu, ghe câu Phú Quốc, ghe cửa Bà Rịa, ghe lưới rùng Phước Hải, ghe Cửa Đại.
- Ghe xuồng Nam Bộ vừa là một loại phương tiện giao thông hữu hiệu, gắn bó mật thiết với cư dân vùng sông nước, lại vừa ẩn chứa bên trong những giá trị văn hóa vô cùng độc đáo.
3. Phần cuối: Phần cuối của văn bản là tên các tài liệu tham khảo.
a) Ta có \(a \bot c\) và \(b \bot c\) nên \(a\) // \(b\) (tính chất từ vuông góc đến song song).
b)
Ta có \(\hat{b C y} = \hat{E C B} = 5 5^{\circ}\).
Vì \(a\) // \(b\) nên \(\hat{E C B} = \hat{F E D} = 5 5^{\circ}\).
Vì \(D n\) là tia phân giác của \(\hat{F D C}\) nên \(\hat{C D n} = \frac{1}{2} . \hat{F D C} = 5 5^{\circ}\).
Nên \(\hat{F E D} = \hat{C D n}\) mà hai góc này ở vị trí đồng vị nên \(D n\) // \(a\).
Ta có \(\hat{x B A} = \hat{B A D} = 5 0^{\circ}\).
Hai góc này ở vị trí so le trong nên \(B x\) // \(A D\) (1).
Ta có \(\hat{D A C} = \hat{A C y} = 3 0^{\circ}\).
Hai góc này ở vị trí so le trong nên \(C y\) // \(A D\) (2).
Từ (1) và (2) suy ra \(B x\) // \(C y\) (cùng song song với \(A D\)).
a) Ta có \(\hat{x O y} = 14 0^{\circ}\) (giả thiết), \(\hat{x O A} = \hat{y O B} = 9 0^{\circ}\) (do \(O A \bot O x ,\) \(O B \bot O y\)).
\(O M^{'}\) là tia đối của \(O M \Rightarrow \left(\hat{M O M}\right)^{'} = 18 0^{\circ}\).
Mà \(O A\) nằm ngoài góc \(\hat{x O y}\) và \(O A \bot O x\) nên \(\hat{M O M^{'}} = \hat{M O x} + \hat{x O A} + \hat{A O M^{'}}\).
Do đó \(\hat{A O M^{'}} = \hat{M O M^{'}} - \left(\right. \hat{M O x} + \hat{x O A} \left.\right) \Rightarrow \hat{A O M^{'}} = 18 0^{\circ} - \left(\right. 7 0^{\circ} + 9 0^{\circ} \left.\right) = 2 0^{\circ}\).
Mặt khác \(O y\) nằm giữa \(O B\) và \(O M\) nên \(\hat{M O B} = \hat{M O y} + \hat{y O B} = 7 0^{\circ} + 9 0^{\circ} = 16 0^{\circ}\).
\(\Rightarrow \hat{M O B} < \hat{M O M^{'}}\).
Do đó tia \(O B\) và \(O y\) nằm cùng nửa mặt phẳng bờ \(M M^{'}\).
\(O x\) nằm giữa \(O A\) và \(O M\) nên \(\hat{M O A} = \hat{M O x} + \hat{x O A} = 7 0^{\circ} + 9 0^{\circ} = 16 0^{\circ}\).
\(\Rightarrow \hat{M O A} < \hat{M O M^{'}}\).
Do đó tia \(O A\) và \(O x\) nằm cùng nửa mặt phẳng bờ \(M M^{'}\).
Nên \(O M^{'}\) nằm giữa \(O A\) và \(O B\).
\(\Rightarrow \hat{A O B} = \hat{A O M^{'}} + \hat{M^{'} O B} \Rightarrow \hat{M^{'} O B} = \hat{A O B} - \hat{A O M^{'}} = 4 0^{\circ} - 2 0^{\circ} = 2 0^{\circ}\) (2)
Từ (1) và (2) ta có \(\left(\hat{M}\right)^{'} \hat{O B} = \hat{A O M} \hat{M^{'}} = 2 0^{\circ} = \frac{1}{2} \hat{A O B}\).
Suy ra \(O M^{'}\) là tia phân giác của góc \(\hat{A O B}\).
b) Ta có \(\hat{M O x} < \hat{M O A} < \hat{M O M}\) nên \(O A\) nằm giữa \(O x\) và \(O M^{'}\).
Mà \(O M^{'}\) là tía phân giác của góc \(\hat{A O B}\).
Suy ra \(O A\) nằm giữa \(O x\) và \(O B\).
Vậy \(\hat{x O B} = \hat{x O A} + \hat{A O B} = 9 0^{\circ} + 4 0^{\circ} = 13 0^{\circ}\).
a) Vì \(O A\) nằm trong góc \(\hat{x O y}\) nên tia \(O A\) nằm giữa hai tia \(O x ,\) \(O y\).
Suy ra \(\hat{x O y} = \hat{x O A} + \hat{A O y} \Rightarrow \hat{A O y} = \hat{x O y} - \hat{x O A} = 9 0^{\circ} - 6 0^{\circ} = 3 0^{\circ}\). (1)
Vì \(O B\) nằm trong góc \(\hat{x O y}\) nên tia \(O B\) nằm giữa hai tia \(O x ,\) \(O y\).
Suy ra \(\hat{x O y} = \hat{x O B} + \hat{B O y} \Rightarrow \hat{x O B} = \hat{x O y} - \hat{y O B} = 9 0^{\circ} - 6 0^{\circ} = 3 0^{\circ}\) (2)
Trên cùng một nửa mặt phẳng bờ chứa tia \(O x\) có \(\hat{x O B} < \hat{x O A}\) (do \(3 0^{\circ} < 6 0^{\circ}\) ) nên tia \(O B\) nằm giữa hai tia \(O x\) và \(O A\).
Suy ra \(\hat{x O A} = \hat{x O B} + \hat{A O B} \Rightarrow \hat{A O B} = \hat{x O A} - \hat{x O B} = 6 0^{\circ} - 3 0^{\circ} = 3 0^{\circ}\). (3)
Từ (2), (3) ta có \(\hat{x O B} = \hat{A O B}\).
Mà tia \(O B\) nằm giữa hai tia \(O x\), \(O A\) nên tia \(O B\) là tia phân giác \(\hat{x O A}\).
Trên cùng một nửa mặt phẳng bờ chứa tia \(O y\) có \(\hat{y O A} < \hat{y O B}\) (do \(3 0^{\circ} < 6 0^{\circ}\) ) nên tia \(O A\) nằm giữa hai tia \(O y\) và \(O B\).
Từ (1) và (3) suy ra \(\hat{y O A} = \hat{A O B}\) nên \(O A\) là tia phân giác \(\hat{y \&\text{nbsp}; O B}\).
b) Ta có \(\hat{M O y} = \hat{y O B} = 6 0^{\circ}\) (do \(O y\) là tia phân giác của \(\hat{M O B}\)).
Suy ra \(\hat{M O B} = \hat{M O y} + \hat{y O B} = 12 0^{\circ}\).
Trên cùng một nửa mặt phẳng bờ chứa tia \(O B\) có \(\hat{M O B} > \hat{A O B}\) (vì \(12 0^{\circ} > 3 0^{\circ} \left.\right)\) nên tia \(O A\) nằm giữa hai tia \(O M\) và \(O B\).
\(\Rightarrow \hat{M O B} = \&\text{nbsp}; \hat{M O A} + \&\text{nbsp}; \hat{A O B} \&\text{nbsp}; \Rightarrow \hat{A \&\text{nbsp}; O M} = \&\text{nbsp}; \hat{M O B} + \&\text{nbsp}; \hat{A O B} = 12 0^{\circ} - 3 0^{\circ} = \&\text{nbsp}; 9 0^{\circ}\).
Vậy \(O M \bot O A\).