LƯƠNG THỊ QUỲNH CHI

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của LƯƠNG THỊ QUỲNH CHI
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu

1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (khoảng 200 chữ)

Môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Một môi trường trong lành không chỉ giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần, mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay môi trường đang bị tàn phá nghiêm trọng bởi các hoạt động khai thác tài nguyên quá mức, xả thải bừa bãi và biến đổi khí hậu. Nếu không có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, ô nhiễm không khí, nguồn nước cạn kiệt và sự suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn nhân loại. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, thực hiện những hành động nhỏ nhưng thiết thực như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước và trồng thêm cây xanh. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể đảm bảo một tương lai bền vững và an toàn cho các thế hệ sau.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận so sánh hình tượng người ẩn sĩ qua hai bài thơ

Trong kho tàng thi ca trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một nét đẹp văn hóa – biểu tượng cho lối sống thanh cao, thoát tục và gắn bó với thiên nhiên. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, người đọc cảm nhận được hai hình ảnh ẩn sĩ với những sắc thái riêng biệt nhưng cùng chung lý tưởng sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên.

Trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình ảnh một người ẩn sĩ chủ động từ bỏ chốn quan trường, tìm về cuộc sống đơn sơ với “một mai, một cuốc, một cần câu”. Ông không màng danh lợi, cho rằng “người khôn” là kẻ lao vào vòng xoáy lợi danh, còn “ta dại” là người chọn lối sống nhàn tản. Cuộc sống của ông hòa hợp với bốn mùa: xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Những hình ảnh ấy không chỉ cho thấy sự thanh đạm mà còn thể hiện một niềm vui sống trong sự giản dị. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “phú quý tựa chiêm bao”, tất cả vinh hoa đều phù phiếm, chỉ có sự nhàn tản mới là hạnh phúc đích thực.

Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại thể hiện hình ảnh một ẩn sĩ sống ẩn mình trong khung cảnh thiên nhiên mùa thu thanh vắng, đậm chất thi vị. Không trực tiếp khẳng định quan điểm sống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến để người đọc cảm nhận lối sống ẩn dật qua từng chi tiết tinh tế: “cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”, “song thưa để mặc bóng trăng vào”. Nhà thơ hiện lên như một người lặng lẽ quan sát thiên nhiên, sống chậm rãi và trầm mặc. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ bình yên ấy là nỗi băn khoăn của một người trí thức trước thời cuộc: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” – thẹn vì chưa thực sự thoát khỏi trăn trở về danh, về trách nhiệm với xã hội.

Cả hai bài thơ đều thể hiện khát vọng thoát ly chốn danh lợi để tìm đến sự thanh thản trong tâm hồn. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự quyết đoán, dứt khoát thì Nguyễn Khuyến lại phảng phất một nỗi buồn thế sự, một sự giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực. Họ đều là những bậc trí giả, sống giữa thiên nhiên nhưng không quên gắn bó với vận mệnh dân tộc.

Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều là biểu tượng cho lối sống thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và thoát tục. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ đã thể hiện hình tượng ấy với những sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp của người quân tử trong văn hóa Việt Nam.


Bạn muốn mình giúp định dạng văn bản này cho đúng chuẩn học sinh hay kiểm tra lại phần nào không?

Bạn đã nói:
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: CON YÊU CON GHÉT Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt. [...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ: - Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn... Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười: - Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con... Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...] [...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà: - Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí. Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận: - Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ! Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ: - Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ? 1966 - 1974 (Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23) Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn) Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện. Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử. Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào? Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì? Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao. Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này Bài 2 II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM) Câu 1 (2.0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau: Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa, Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ, Bóng cây lơi lả bên hàng dậu, Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ. Ông lão nằm chơi ở giữa sân, Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân. Thằng cu đứng vịn bên thành chõng, Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân. (Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191) Câu 2 (4.0 điểm) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài làm mẫu cho cả hai phần: PHẦN ĐỌC HIỂUPHẦN VIẾT.


PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng là ngôi thứ ba.

Câu 2. Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
– Khi mẹ đến ở chung, chị “rất mừng”.
– Chị “cố gặng mẹ cho hết lẽ” chứ không trách móc.
– Chị chăm lo cho mẹ chu đáo, để mẹ trông cháu giúp khi chị bận công tác.
– Khi mẹ hối hận, chị vội vàng ôm lấy mẹ, trấn an: “Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?”.

Câu 3. Nhân vật Bớt là người con hiếu thảo, giàu lòng vị tha, biết yêu thương và không chấp nhặt lỗi lầm của mẹ, luôn sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Câu 4. Hành động ôm lấy mẹ và câu nói của Bớt thể hiện sự cảm thông, tha thứ và bao dung. Nó khẳng định tình yêu thương chân thành mà chị dành cho mẹ, bất chấp quá khứ từng bị đối xử bất công.

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa: Tình mẫu tử và lòng vị tha có thể hóa giải mọi rạn nứt và gắn kết tình thân.
Lí do: Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ xa cách vì hiểu lầm hay bất công, lòng vị tha sẽ giúp hàn gắn những tổn thương và làm cho tình cảm gia đình thêm bền chặt.


PHẦN VIẾT (6,0 điểm)


Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nêu cảm nhận về vẻ đẹp bức tranh quê trong đoạn thơ

Đoạn thơ của Đoàn Văn Cừ khắc họa một bức tranh quê yên bình, thân thuộc và đậm chất trữ tình. Không gian làng quê hiện lên qua âm thanh của “tiếng võng kẽo kẹt”, tiếng động nhẹ nhàng ấy như nhịp thở của cuộc sống nông thôn. Những hình ảnh đời thường như “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả”, “ông lão nằm chơi”, “con mèo quyện dưới chân” đều góp phần tạo nên một cảnh sắc tĩnh lặng mà sống động. Bức tranh ấy không chỉ đẹp ở hình ảnh mà còn giàu chất thơ, ánh trăng ngân soi xuống tàu cau, làm sáng bừng lên nét đẹp thơ mộng của một đêm hè thôn dã. Cảnh vật hòa quyện cùng con người trong sự thư thái, an yên. Qua đó, nhà thơ thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đồng thời gợi trong lòng người đọc một nỗi nhớ, một sự gắn bó sâu nặng với làng quê Việt Nam – nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống bền vững.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ

Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất trong đời người – thời điểm của nhiệt huyết, khát vọng và niềm tin. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn là động lực phát triển của cộng đồng và đất nước.

Nỗ lực hết mình là khi con người dốc toàn tâm toàn lực cho mục tiêu đã chọn, không ngại khó khăn, không đầu hàng trước thất bại. Tuổi trẻ là lúc con người có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ và sự táo bạo – những điều kiện lý tưởng để học tập, làm việc và cống hiến. Những người trẻ dám dấn thân, không ngừng trau dồi kỹ năng, vượt qua nỗi sợ hãi để tiến lên phía trước sẽ là người làm chủ tương lai. Lịch sử đã chứng minh, nhiều tấm gương tuổi trẻ nỗ lực phi thường như Bác Hồ bôn ba tìm đường cứu nước, hay gần đây là các bạn trẻ khởi nghiệp sáng tạo, không ngừng học hỏi, thích nghi với công nghệ mới, đóng góp tích cực cho xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người trẻ vẫn còn lười biếng, sống buông thả, dễ nản chí. Họ chờ đợi may mắn thay vì nỗ lực từng ngày. Điều đó không chỉ lãng phí thời gian quý báu của tuổi trẻ mà còn đánh mất những cơ hội thay đổi cuộc đời. Vì vậy, mỗi người trẻ cần rèn luyện ý chí kiên định, xác định mục tiêu rõ ràng, học cách chấp nhận thử thách và biết vươn lên từ thất bại. Nỗ lực hôm nay là bước đệm cho thành công ngày mai.

Tuổi trẻ không dài, và thành công không đến với người ngồi chờ. Sống trọn vẹn, hết mình, dám ước mơ và hành động – đó chính là cách mà tuổi trẻ viết nên những trang đời rực rỡ nhất của mình.


Bạn muốn mình định dạng các phần này theo mẫu bài thi Ngữ văn hoặc cần bản Word/PDF để in ra không?

Bạn đã nói:
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: BÀN GIAO Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu Bàn giao gió heo may Bàn giao góc phố Có mùi ngô nướng bay Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả Sương muối đêm bay lạnh mặt người Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày Bàn giao những mặt người đẫm nắng Đẫm yêu thương trên trái đất này Ông chỉ bàn giao một chút buồn Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn Câu thơ vững gót làm người ấy* Ông cũng bàn giao cho cháu luôn. (Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86) Chú thích: * Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người. Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì? Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó? Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ. Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đầy đủ cho các câu hỏi trong PHẦN ĐỌC HIỂU:


Câu 1.
Thể thơ của văn bản trên là thơ tự do.


Câu 2.
Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ sau:
– Gió heo may, góc phố có mùi ngô nướng.
– Tháng Giêng có hương bưởi, cỏ mùa xuân xanh.
– Những mặt người đẫm nắng, đẫm yêu thương.
– Một chút buồn, chút cô đơn và cả câu thơ "vững gót làm người".


Câu 3.
Người ông không muốn bàn giao cho cháu những điều như: vất vả, sương muối, đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc, đèn mờ mưa bụi.
Lí do: Vì ông mong cháu không phải chịu những khổ đau, gian truân, mất mát như thế hệ mình đã từng trải qua. Đó là mong ước hướng đến một cuộc sống yên bình, tốt đẹp hơn cho thế hệ sau.


Câu 4.
Bài thơ sử dụng biện pháp điệp ngữ "bàn giao" lặp đi lặp lại nhiều lần.
Hiệu quả: Nhấn mạnh tình cảm, trách nhiệm truyền trao giữa các thế hệ; đồng thời thể hiện sự trân trọng, lựa chọn kỹ càng của người ông đối với những giá trị sẽ để lại cho cháu.


Câu 5.
Trước những điều quý giá được cha ông bàn giao, chúng ta cần có thái độ biết ơn và trân trọng. Cần ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi người trẻ nên nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức và đóng góp cho cộng đồng. Đó chính là cách xứng đáng nhất để tiếp nối và làm rạng danh những điều thiêng liêng mà thế hệ trước đã để lại.

Bạn đã nói:
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM) Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn (khoảng 600 chữ) nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm.
ChatGPT đã nói:

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nêu cảm nhận về bài thơ ở phần đọc hiểu

Bài thơ "Bàn giao" của Vũ Quần Phương khắc họa một hình ảnh người ông già đầy tình yêu thương, trách nhiệm và sự chia sẻ đối với cháu. Qua những lời "bàn giao" giản dị nhưng sâu sắc, ông truyền lại những giá trị quý báu của cuộc sống. Những hình ảnh như "gió heo may", "góc phố có mùi ngô nướng", "hương bưởi tháng Giêng", "cỏ mùa xuân" mang đậm dấu ấn của làng quê, của những khoảnh khắc bình yên, gần gũi. Đặc biệt, người ông không bàn giao những nỗi vất vả, khổ đau của cuộc sống mà chỉ muốn cháu được hưởng những điều tốt đẹp nhất. Đó là ước mơ của một người ông dành cho thế hệ sau – mong cháu có một cuộc sống đầy ắp yêu thương, bình an, không phải trải qua những thử thách khắc nghiệt mà ông đã từng sống. Bài thơ thể hiện tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của một thế hệ đối với thế hệ tiếp nối, đồng thời nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm gìn giữ và phát huy những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã trao gửi.


Câu 2 (4.0 điểm): Viết bài văn nêu suy nghĩ về vấn đề tuổi trẻ và sự trải nghiệm

Tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời mỗi con người. Đây là thời kỳ của khát khao, mơ ước và đặc biệt là sự trải nghiệm. Trải nghiệm là một phần không thể thiếu trong quá trình trưởng thành của mỗi người, đặc biệt đối với tuổi trẻ. Những thử thách, khó khăn hay những niềm vui, thất bại đều là những bài học quý giá, giúp mỗi cá nhân trưởng thành và nhận ra giá trị thực sự của cuộc sống.

Sự trải nghiệm giúp tuổi trẻ học hỏi và rèn luyện bản lĩnh, tự tin đối mặt với khó khăn. Một người trẻ không thể trưởng thành nếu không vượt qua được những thử thách trong cuộc sống. Những sai lầm, thất bại không phải là điều đáng sợ, mà là những bước ngoặt quan trọng để học hỏi, cải thiện và trở nên mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, sự trải nghiệm cũng giúp tuổi trẻ nhận ra được những điều ý nghĩa, những giá trị thật sự trong cuộc sống, như tình bạn, tình yêu thương gia đình, hay ước mơ hoài bão.

Bên cạnh đó, sự trải nghiệm còn giúp tuổi trẻ mở rộng tầm nhìn và tìm kiếm đam mê, hướng đi trong cuộc đời. Nếu chỉ sống trong vùng an toàn, không dám thử thách bản thân, chúng ta sẽ không thể phát huy hết tiềm năng của mình. Sự trải nghiệm có thể đến từ những chuyến đi, từ những công việc không quen thuộc, hay từ những tình huống khó khăn mà mỗi người phải đối mặt. Chỉ khi dám bước ra khỏi vùng an toàn, tuổi trẻ mới thực sự trưởng thành.

Tuy nhiên, không phải tất cả trải nghiệm đều mang lại kết quả tích cực. Đôi khi, những quyết định sai lầm có thể dẫn đến thất bại, thậm chí là những tổn thương về tâm lý. Nhưng đó chính là những bài học để mỗi người trẻ biết mình cần làm gì, cần thay đổi ra sao để phát triển hơn trong tương lai. Chính sự dám đối mặt và học hỏi từ thất bại sẽ tạo nên những con người mạnh mẽ, kiên cường và đầy nhiệt huyết.

Tuổi trẻ là quãng thời gian ngắn ngủi nhưng đầy tiềm năng. Mỗi trải nghiệm là một viên gạch xây dựng con đường tương lai của mỗi cá nhân. Hãy biết trân trọng những cơ hội, thử thách mà cuộc sống mang lại để không bỏ lỡ những khoảnh khắc quý giá trong hành trình trưởng thành. Khi tuổi trẻ trôi qua, chỉ có những trải nghiệm ý nghĩa sẽ là hành trang theo ta suốt cuộc đời.

ChatGPT Đăng nhập
Bạn đã nói:
Câu 1. (2.0 điểm) Từ phần đọc hiểu, viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh, đánh giá hình tượng người ẩn sĩ được khắc họa qua hai bài thơ sau:

NHÀN

Một mai, một cuốc, một cần câu,
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao.
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

(Thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, NXB Khoa học Xã hội, 2021)

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

(Nguyễn Khuyến, NXB Hội Nhà văn, 2015)
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là gợi ý trả lời cho cả hai câu:


Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (khoảng 200 chữ)

Môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Một môi trường trong lành không chỉ giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần, mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay môi trường đang bị tàn phá nghiêm trọng bởi các hoạt động khai thác tài nguyên quá mức, xả thải bừa bãi và biến đổi khí hậu. Nếu không có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, ô nhiễm không khí, nguồn nước cạn kiệt và sự suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn nhân loại. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, thực hiện những hành động nhỏ nhưng thiết thực như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước và trồng thêm cây xanh. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể đảm bảo một tương lai bền vững và an toàn cho các thế hệ sau.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận so sánh hình tượng người ẩn sĩ qua hai bài thơ

Trong kho tàng thi ca trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một nét đẹp văn hóa – biểu tượng cho lối sống thanh cao, thoát tục và gắn bó với thiên nhiên. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, người đọc cảm nhận được hai hình ảnh ẩn sĩ với những sắc thái riêng biệt nhưng cùng chung lý tưởng sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên.

Trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình ảnh một người ẩn sĩ chủ động từ bỏ chốn quan trường, tìm về cuộc sống đơn sơ với “một mai, một cuốc, một cần câu”. Ông không màng danh lợi, cho rằng “người khôn” là kẻ lao vào vòng xoáy lợi danh, còn “ta dại” là người chọn lối sống nhàn tản. Cuộc sống của ông hòa hợp với bốn mùa: xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Những hình ảnh ấy không chỉ cho thấy sự thanh đạm mà còn thể hiện một niềm vui sống trong sự giản dị. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “phú quý tựa chiêm bao”, tất cả vinh hoa đều phù phiếm, chỉ có sự nhàn tản mới là hạnh phúc đích thực.

Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại thể hiện hình ảnh một ẩn sĩ sống ẩn mình trong khung cảnh thiên nhiên mùa thu thanh vắng, đậm chất thi vị. Không trực tiếp khẳng định quan điểm sống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến để người đọc cảm nhận lối sống ẩn dật qua từng chi tiết tinh tế: “cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”, “song thưa để mặc bóng trăng vào”. Nhà thơ hiện lên như một người lặng lẽ quan sát thiên nhiên, sống chậm rãi và trầm mặc. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ bình yên ấy là nỗi băn khoăn của một người trí thức trước thời cuộc: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” – thẹn vì chưa thực sự thoát khỏi trăn trở về danh, về trách nhiệm với xã hội.

Cả hai bài thơ đều thể hiện khát vọng thoát ly chốn danh lợi để tìm đến sự thanh thản trong tâm hồn. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự quyết đoán, dứt khoát thì Nguyễn Khuyến lại phảng phất một nỗi buồn thế sự, một sự giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực. Họ đều là những bậc trí giả, sống giữa thiên nhiên nhưng không quên gắn bó với vận mệnh dân tộc.

Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều là biểu tượng cho lối sống thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và thoát tục. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ đã thể hiện hình tượng ấy với những sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp của người quân tử trong văn hóa Việt Nam.


Bạn muốn mình giúp định dạng văn bản này cho đúng chuẩn học sinh hay kiểm tra lại phần nào không?

Bạn đã nói:
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau:

CON YÊU CON GHÉT

Lược phần đầu: Bớt và Nở đều là con gái bà Ngải nhưng lại nhận sự đối xử phân biệt yêu ghét trái ngược từ mẹ đến mức Bớt từng phải ấm ức khóc ầm ĩ: "Bu đừng có con yêu con ghét! Được, đã thế xem sau này bu già, một mình cái Nở có nuôi bu không, hay lúc ấy lại phải gọi đến tôi?". Sau này hai cô con gái đi lấy chồng, bà vẫn đối xử kiểu phân biệt, có gì cũng bù trì cho Nở, tiền nong gửi cả Nở nhưng rồi lại bị chính Nở dáo dở lấy hết tiền gom góp dành dụm của bà. Bà giận, khóa cửa, xuống cuối làng ở với mẹ con Bớt.

[...] Thấy mẹ đem quần áo nồi niêu đến ở chung, Bớt rất mừng. Nhưng chị cố gặng mẹ cho hết lẽ:

- Bu nghĩ kĩ đi. Chẳng sau này lại phiền bu ra, như chị Nở thì con không muốn...

Nghe con nhắc đến thế thì cụ lại ngượng. Bà cụ gượng cười:

- Mày khác, nó khác. Với cái gì mà phải nghĩ hở con? Đây này, bu cứ tính thế này: Bao giờ đánh xong thằng Mỹ, bố con Hiên với cậu Tấn nó về, lúc bấy giờ ở đâu rồi hãy hay. Còn bây giờ bu cứ ở đây với mẹ con mày, chứ bu ở trên ấy một mình, vong vóng cũng buồn, mà mẹ con mày dưới này thì bấn quá. Mày thì đã lắm thứ công tác. Lại còn lo làm điểm lấy thóc nuôi con...

Từ ngày bà đến ở chung, Bớt như người được cất đi một gánh nặng trên vai. Giờ Bớt chỉ lo công tác với ra đồng làm, giá có phải đi họp hay đi học dăm bảy ngày liền như lớp học chống sâu bệnh cho lúa vừa rồi, là Bớt có thể yên trí đùm gạo đi được, không phải như cái đận ngày xưa vừa họp đấy, mà bụng thì nôn lên với mấy đứa con còn vất vạ ra ở nhà, gửi liều cho hàng xóm. Mấy đứa trẻ được bà trông, chỉ vài tháng đã lớn, béo ra trông thấy. [...]

[...] Bớt kéo con vào lòng, vạch tóc con ra và chỉ vào cái sẹo to bằng cái trôn bát ở gần đỉnh đầu, vô tình kể với bà:

- Còn bố nó ở nhà, bố nó thương con này nhất, bố nó cứ bảo: Tội! Con gái xấu xí.

Bà cụ thở dài và buột miệng cái điều mà bà vẫn lấy làm ân hận:

- Ừ, đáng ra là thế, con nào chả là con. Có mẹ cổ nhân cổ sơ, ngày xưa mẹ mới dọa ra thế chứ!

Bớt vội buông bé Hiên, ôm lấy mẹ:

- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?

1966 - 1974

(Vũ Thị Thường, Tuyển tập truyện ngắn Việt Nam 1945 - 2005, NXB Công an Nhân dân, 2005, tr.20 - 23)

Thực hiện các yêu cầu từ 1 đến 5 (trình bày ngắn gọn)

Câu 1. Xác định ngôi kể của người kể chuyện.

Câu 2. Chỉ ra một số chi tiết về cách ứng xử của chị Bớt Dương trong văn bản cho thấy chị không giận mẹ dù trước đó từng bị mẹ phân biệt đối xử.

Câu 3. Qua đoạn trích, anh/chị thấy nhân vật Bớt là người như thế nào?

Câu 4. Hành động ôm lấy vai mẹ và câu nói của chị Bớt: "- Ô hay! Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?" có ý nghĩa gì?

Câu 5. Qua văn bản, hãy nêu một thông điệp mà anh/chị thấy có ý nghĩa nhất đối với cuộc sống hôm nay và lí giải tại sao.

Bạn chưa trả lời câu hỏi này. Trả lời câu hỏi này
Bài 2
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)

Câu 1 (2.0 điểm)

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của bức tranh quê trong đoạn thơ sau:

Tiếng võng trong nhà kẽo kẹt đưa,

Đầu thềm con chó ngủ lơ mơ,

Bóng cây lơi lả bên hàng dậu,

Đêm vắng, người im, cảnh lặng tờ.



Ông lão nằm chơi ở giữa sân,

Tàu cau lấp loáng ánh trăng ngân.

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng,

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

(Trích Trăng hè, Đoàn Văn Cừ, Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân, NXB Văn học, 2005, tr.190 - 191)

Câu 2 (4.0 điểm)

Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ hiện nay.
ChatGPT đã nói:

Dưới đây là bài làm mẫu cho cả hai phần: PHẦN ĐỌC HIỂU và PHẦN VIẾT.


PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng là ngôi thứ ba.

Câu 2. Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
– Khi mẹ đến ở chung, chị “rất mừng”.
– Chị “cố gặng mẹ cho hết lẽ” chứ không trách móc.
– Chị chăm lo cho mẹ chu đáo, để mẹ trông cháu giúp khi chị bận công tác.
– Khi mẹ hối hận, chị vội vàng ôm lấy mẹ, trấn an: “Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?”.

Câu 3. Nhân vật Bớt là người con hiếu thảo, giàu lòng vị tha, biết yêu thương và không chấp nhặt lỗi lầm của mẹ, luôn sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Câu 4. Hành động ôm lấy mẹ và câu nói của Bớt thể hiện sự cảm thông, tha thứ và bao dung. Nó khẳng định tình yêu thương chân thành mà chị dành cho mẹ, bất chấp quá khứ từng bị đối xử bất công.

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa: Tình mẫu tử và lòng vị tha có thể hóa giải mọi rạn nứt và gắn kết tình thân.
Lí do: Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ xa cách vì hiểu lầm hay bất công, lòng vị tha sẽ giúp hàn gắn những tổn thương và làm cho tình cảm gia đình thêm bền chặt.


PHẦN VIẾT (6,0 điểm)


Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nêu cảm nhận về vẻ đẹp bức tranh quê trong đoạn thơ

Đoạn thơ của Đoàn Văn Cừ khắc họa một bức tranh quê yên bình, thân thuộc và đậm chất trữ tình. Không gian làng quê hiện lên qua âm thanh của “tiếng võng kẽo kẹt”, tiếng động nhẹ nhàng ấy như nhịp thở của cuộc sống nông thôn. Những hình ảnh đời thường như “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả”, “ông lão nằm chơi”, “con mèo quyện dưới chân” đều góp phần tạo nên một cảnh sắc tĩnh lặng mà sống động. Bức tranh ấy không chỉ đẹp ở hình ảnh mà còn giàu chất thơ, ánh trăng ngân soi xuống tàu cau, làm sáng bừng lên nét đẹp thơ mộng của một đêm hè thôn dã. Cảnh vật hòa quyện cùng con người trong sự thư thái, an yên. Qua đó, nhà thơ thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đồng thời gợi trong lòng người đọc một nỗi nhớ, một sự gắn bó sâu nặng với làng quê Việt Nam – nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống bền vững.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ

Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất trong đời người – thời điểm của nhiệt huyết, khát vọng và niềm tin. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn là động lực phát triển của cộng đồng và đất nước.

Nỗ lực hết mình là khi con người dốc toàn tâm toàn lực cho mục tiêu đã chọn, không ngại khó khăn, không đầu hàng trước thất bại. Tuổi trẻ là lúc con người có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ và sự táo bạo – những điều kiện lý tưởng để học tập, làm việc và cống hiến. Những người trẻ dám dấn thân, không ngừng trau dồi kỹ năng, vượt qua nỗi sợ hãi để tiến lên phía trước sẽ là người làm chủ tương lai. Lịch sử đã chứng minh, nhiều tấm gương tuổi trẻ nỗ lực phi thường như Bác Hồ bôn ba tìm đường cứu nước, hay gần đây là các bạn trẻ khởi nghiệp sáng tạo, không ngừng học hỏi, thích nghi với công nghệ mới, đóng góp tích cực cho xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người trẻ vẫn còn lười biếng, sống buông thả, dễ nản chí. Họ chờ đợi may mắn thay vì nỗ lực từng ngày. Điều đó không chỉ lãng phí thời gian quý báu của tuổi trẻ mà còn đánh mất những cơ hội thay đổi cuộc đời. Vì vậy, mỗi người trẻ cần rèn luyện ý chí kiên định, xác định mục tiêu rõ ràng, học cách chấp nhận thử thách và biết vươn lên từ thất bại. Nỗ lực hôm nay là bước đệm cho thành công ngày mai.

Tuổi trẻ không dài, và thành công không đến với người ngồi chờ. Sống trọn vẹn, hết mình, dám ước mơ và hành động – đó chính là cách mà tuổi trẻ viết nên những trang đời rực rỡ nhất của mình.


Bạn muốn mình định dạng các phần này theo mẫu bài thi Ngữ văn hoặc cần bản Word/PDF để in ra không?

Bạn đã nói:
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau:

BÀN GIAO

Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu

Bàn giao gió heo may

Bàn giao góc phố

Có mùi ngô nướng bay



Ông sẽ chẳng bàn giao những tháng ngày vất vả

Sương muối đêm bay lạnh mặt người

Đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc

Ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi



Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi

Cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày

Bàn giao những mặt người đẫm nắng

Đẫm yêu thương trên trái đất này



Ông chỉ bàn giao một chút buồn

Ngậm ngùi một chút, chút cô đơn

Câu thơ vững gót làm người ấy*

Ông cũng bàn giao cho cháu luôn.

(Theo Vũ Quần Phương, Văn nghệ quân đội, Xuân Giáp Ngọ 2014, tr.86)

Chú thích:

* Câu thơ Cắn răng mà chịu thiệt, vững gót để làm người.

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.

Câu 2. Trong bài thơ, nhân vật người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ gì?

Câu 3. Ở khổ thơ thứ hai, có những thứ mà người ông chẳng bàn giao cho cháu. Theo anh/chị, vì sao người ông lại không muốn bàn giao cho cháu những thứ đó?

Câu 4. Chỉ ra và phân tích biện pháp điệp ngữ được sử dụng trong bài thơ.

Câu 5. Chúng ta hôm nay đã nhận bàn giao từ thế hệ cha ông đi trước rất nhiều điều quý giá, thiêng liêng. Theo anh/chị, chúng
ta cần có thái độ gì trước những điều được bàn giao ấy? (Bày tỏ bằng đoạn văn 5 - 7 câu)

ChatGPT đã nói:

Dưới đây là gợi ý trả lời ngắn gọn, đầy đủ cho các câu hỏi trong PHẦN ĐỌC HIỂU:


Câu 1.
Thể thơ của văn bản trên là thơ tự do.


Câu 2.
Trong bài thơ, người ông sẽ bàn giao cho cháu những thứ sau:
– Gió heo may, góc phố có mùi ngô nướng.
– Tháng Giêng có hương bưởi, cỏ mùa xuân xanh.
– Những mặt người đẫm nắng, đẫm yêu thương.
– Một chút buồn, chút cô đơn và cả câu thơ "vững gót làm người".


Câu 3.
Người ông không muốn bàn giao cho cháu những điều như: vất vả, sương muối, đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc, đèn mờ mưa bụi.
Lí do: Vì ông mong cháu không phải chịu những khổ đau, gian truân, mất mát như thế hệ mình đã từng trải qua. Đó là mong ước hướng đến một cuộc sống yên bình, tốt đẹp hơn cho thế hệ sau.


Câu 4.
Bài thơ sử dụng biện pháp điệp ngữ "bàn giao" lặp đi lặp lại nhiều lần.
Hiệu quả: Nhấn mạnh tình cảm, trách nhiệm truyền trao giữa các thế hệ; đồng thời thể hiện sự trân trọng, lựa chọn kỹ càng của người ông đối với những giá trị sẽ để lại cho cháu.


Câu 5.
Trước những điều quý giá được cha ông bàn giao, chúng ta cần có thái độ biết ơn và trân trọng. Cần ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp, sống trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Mỗi người trẻ nên nỗ lực học tập, rèn luyện đạo đức và đóng góp cho cộng đồng. Đó chính là cách xứng đáng nhất để tiếp nối và làm rạng danh những điều thiêng liêng mà thế hệ trước đã để lại.

Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn nêu cảm nhận về vẻ đẹp bức tranh quê trong đoạn thơ

Đoạn thơ của Đoàn Văn Cừ khắc họa một bức tranh quê yên bình, thân thuộc và đậm chất trữ tình. Không gian làng quê hiện lên qua âm thanh của “tiếng võng kẽo kẹt”, tiếng động nhẹ nhàng ấy như nhịp thở của cuộc sống nông thôn. Những hình ảnh đời thường như “con chó ngủ lơ mơ”, “bóng cây lơi lả”, “ông lão nằm chơi”, “con mèo quyện dưới chân” đều góp phần tạo nên một cảnh sắc tĩnh lặng mà sống động. Bức tranh ấy không chỉ đẹp ở hình ảnh mà còn giàu chất thơ, ánh trăng ngân soi xuống tàu cau, làm sáng bừng lên nét đẹp thơ mộng của một đêm hè thôn dã. Cảnh vật hòa quyện cùng con người trong sự thư thái, an yên. Qua đó, nhà thơ thể hiện tình yêu tha thiết với quê hương, đồng thời gợi trong lòng người đọc một nỗi nhớ, một sự gắn bó sâu nặng với làng quê Việt Nam – nơi lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống bền vững.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận về sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ

Tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất trong đời người – thời điểm của nhiệt huyết, khát vọng và niềm tin. Trong xã hội hiện đại đầy biến động, sự nỗ lực hết mình của tuổi trẻ không chỉ là yếu tố quyết định thành công cá nhân mà còn là động lực phát triển của cộng đồng và đất nước.

Nỗ lực hết mình là khi con người dốc toàn tâm toàn lực cho mục tiêu đã chọn, không ngại khó khăn, không đầu hàng trước thất bại. Tuổi trẻ là lúc con người có đầy đủ sức khỏe, trí tuệ và sự táo bạo – những điều kiện lý tưởng để học tập, làm việc và cống hiến. Những người trẻ dám dấn thân, không ngừng trau dồi kỹ năng, vượt qua nỗi sợ hãi để tiến lên phía trước sẽ là người làm chủ tương lai. Lịch sử đã chứng minh, nhiều tấm gương tuổi trẻ nỗ lực phi thường như Bác Hồ bôn ba tìm đường cứu nước, hay gần đây là các bạn trẻ khởi nghiệp sáng tạo, không ngừng học hỏi, thích nghi với công nghệ mới, đóng góp tích cực cho xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tế, không ít người trẻ vẫn còn lười biếng, sống buông thả, dễ nản chí. Họ chờ đợi may mắn thay vì nỗ lực từng ngày. Điều đó không chỉ lãng phí thời gian quý báu của tuổi trẻ mà còn đánh mất những cơ hội thay đổi cuộc đời. Vì vậy, mỗi người trẻ cần rèn luyện ý chí kiên định, xác định mục tiêu rõ ràng, học cách chấp nhận thử thách và biết vươn lên từ thất bại. Nỗ lực hôm nay là bước đệm cho thành công ngày mai.

Tuổi trẻ không dài, và thành công không đến với người ngồi chờ. Sống trọn vẹn, hết mình, dám ước mơ và hành động – đó chính là cách mà tuổi trẻ viết nên những trang đời rực rỡ nhất của mình.

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng là ngôi thứ ba.

Câu 2. Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
– Khi mẹ đến ở chung, chị “rất mừng”.
– Chị “cố gặng mẹ cho hết lẽ” chứ không trách móc.
– Chị chăm lo cho mẹ chu đáo, để mẹ trông cháu giúp khi chị bận công tác.
– Khi mẹ hối hận, chị vội vàng ôm lấy mẹ, trấn an: “Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?”.

Câu 3. Nhân vật Bớt là người con hiếu thảo, giàu lòng vị tha, biết yêu thương và không chấp nhặt lỗi lầm của mẹ, luôn sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Câu 4. Hành động ôm lấy mẹ và câu nói của Bớt thể hiện sự cảm thông, tha thứ và bao dung. Nó khẳng định tình yêu thương chân thành mà chị dành cho mẹ, bất chấp quá khứ từng bị đối xử bất công.

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa: Tình mẫu tử và lòng vị tha có thể hóa giải mọi rạn nứt và gắn kết tình thân.
Lí do: Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ xa cách vì hiểu lầm hay bất công, lòng vị tha sẽ giúp hàn gắn những tổn thương và làm cho tình cảm gia đình thêm bền chặt.


Câu 1. Ngôi kể được sử dụng là ngôi thứ ba.

Câu 2. Một số chi tiết cho thấy chị Bớt không giận mẹ:
– Khi mẹ đến ở chung, chị “rất mừng”.
– Chị “cố gặng mẹ cho hết lẽ” chứ không trách móc.
– Chị chăm lo cho mẹ chu đáo, để mẹ trông cháu giúp khi chị bận công tác.
– Khi mẹ hối hận, chị vội vàng ôm lấy mẹ, trấn an: “Con có nói gì đâu, sao bu cứ nghĩ ngợi thế nhỉ?”.

Câu 3. Nhân vật Bớt là người con hiếu thảo, giàu lòng vị tha, biết yêu thương và không chấp nhặt lỗi lầm của mẹ, luôn sống có trách nhiệm với gia đình và xã hội.

Câu 4. Hành động ôm lấy mẹ và câu nói của Bớt thể hiện sự cảm thông, tha thứ và bao dung. Nó khẳng định tình yêu thương chân thành mà chị dành cho mẹ, bất chấp quá khứ từng bị đối xử bất công.

Câu 5. Thông điệp ý nghĩa: Tình mẫu tử và lòng vị tha có thể hóa giải mọi rạn nứt và gắn kết tình thân.
Lí do: Trong cuộc sống hiện đại, khi con người dễ xa cách vì hiểu lầm hay bất công, lòng vị tha sẽ giúp hàn gắn những tổn thương và làm cho tình cảm gia đình thêm bền chặt.


Câu 1 (2.0 điểm): Viết đoạn văn trình bày suy nghĩ về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường (khoảng 200 chữ)

Môi trường đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của con người và mọi sinh vật trên Trái Đất. Một môi trường trong lành không chỉ giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần, mà còn là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Tuy nhiên, hiện nay môi trường đang bị tàn phá nghiêm trọng bởi các hoạt động khai thác tài nguyên quá mức, xả thải bừa bãi và biến đổi khí hậu. Nếu không có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai, ô nhiễm không khí, nguồn nước cạn kiệt và sự suy giảm đa dạng sinh học. Vì vậy, bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là nghĩa vụ chung của toàn nhân loại. Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức, thực hiện những hành động nhỏ nhưng thiết thực như không xả rác bừa bãi, tiết kiệm điện nước và trồng thêm cây xanh. Chỉ khi con người sống hài hòa với thiên nhiên, chúng ta mới có thể đảm bảo một tương lai bền vững và an toàn cho các thế hệ sau.


Câu 2 (4.0 điểm): Bài văn nghị luận so sánh hình tượng người ẩn sĩ qua hai bài thơ

Trong kho tàng thi ca trung đại Việt Nam, hình tượng người ẩn sĩ là một nét đẹp văn hóa – biểu tượng cho lối sống thanh cao, thoát tục và gắn bó với thiên nhiên. Qua hai bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm và bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, người đọc cảm nhận được hai hình ảnh ẩn sĩ với những sắc thái riêng biệt nhưng cùng chung lý tưởng sống thanh đạm, hòa mình với thiên nhiên.

Trong bài thơ “Nhàn”, Nguyễn Bỉnh Khiêm khắc họa hình ảnh một người ẩn sĩ chủ động từ bỏ chốn quan trường, tìm về cuộc sống đơn sơ với “một mai, một cuốc, một cần câu”. Ông không màng danh lợi, cho rằng “người khôn” là kẻ lao vào vòng xoáy lợi danh, còn “ta dại” là người chọn lối sống nhàn tản. Cuộc sống của ông hòa hợp với bốn mùa: xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao, thu ăn măng trúc, đông ăn giá. Những hình ảnh ấy không chỉ cho thấy sự thanh đạm mà còn thể hiện một niềm vui sống trong sự giản dị. Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, “phú quý tựa chiêm bao”, tất cả vinh hoa đều phù phiếm, chỉ có sự nhàn tản mới là hạnh phúc đích thực.

Trong khi đó, bài thơ thu của Nguyễn Khuyến lại thể hiện hình ảnh một ẩn sĩ sống ẩn mình trong khung cảnh thiên nhiên mùa thu thanh vắng, đậm chất thi vị. Không trực tiếp khẳng định quan điểm sống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến để người đọc cảm nhận lối sống ẩn dật qua từng chi tiết tinh tế: “cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”, “song thưa để mặc bóng trăng vào”. Nhà thơ hiện lên như một người lặng lẽ quan sát thiên nhiên, sống chậm rãi và trầm mặc. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ bình yên ấy là nỗi băn khoăn của một người trí thức trước thời cuộc: “Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” – thẹn vì chưa thực sự thoát khỏi trăn trở về danh, về trách nhiệm với xã hội.

Cả hai bài thơ đều thể hiện khát vọng thoát ly chốn danh lợi để tìm đến sự thanh thản trong tâm hồn. Tuy nhiên, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm thể hiện sự quyết đoán, dứt khoát thì Nguyễn Khuyến lại phảng phất một nỗi buồn thế sự, một sự giằng xé giữa lý tưởng và hiện thực. Họ đều là những bậc trí giả, sống giữa thiên nhiên nhưng không quên gắn bó với vận mệnh dân tộc.

Tóm lại, hình tượng người ẩn sĩ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Khuyến đều là biểu tượng cho lối sống thanh cao, gắn bó với thiên nhiên và thoát tục. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ đã thể hiện hình tượng ấy với những sắc thái riêng, góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp của người quân tử trong văn hóa Việt Nam.

Câu 1: Theo bài viết, hiện tượng "tiếc thương sinh thái" là nỗi đau khổ về tinh thần trước những mất mát trong môi trường tự nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, tương tự như cảm giác mất người thân.

Câu 2: Bài viết trình bày thông tin theo trình tự: giới thiệu hiện tượng → định nghĩa khái niệm → dẫn chứng thực tế → mở rộng tác động → nêu kết quả khảo sát.

Câu 3: Tác giả sử dụng các bằng chứng gồm: định nghĩa của hai nhà khoa học xã hội, dẫn chứng từ cộng đồng Inuit (Canada) và nông dân Australia, các tộc người bản địa Brazil, cùng kết quả khảo sát ở 10 quốc gia.

Câu 4: Tác giả tiếp cận vấn đề biến đổi khí hậu từ góc độ tâm lý và văn hóa, nhấn mạnh tác động sâu sắc của nó đến đời sống tinh thần con người, không chỉ là một vấn đề môi trường.

Câu 5: Thông điệp sâu sắc nhất là: Biến đổi khí hậu không chỉ hủy hoại môi trường sống mà còn gây ra khủng hoảng tinh thần, văn hóa và bản sắc của con người ở cả tiền tuyến lẫn hậu phương.

Câu 1 
Sống một cách ý nghĩa là khát vọng của mỗi con người, bởi lẽ ý nghĩa của cuộc sống không chỉ là sự tồn tại mà còn là sự cống hiến và để lại giá trị lâu dài cho bản thân và xã hội. Để sống một cách ý nghĩa, trước hết, con người cần xác định mục tiêu, lý tưởng sống rõ ràng và đúng đắn, từ đó phấn đấu không ngừng nghỉ để đạt được chúng. Bên cạnh đó, biết trân trọng những mối quan hệ xung quanh, yêu thương và sẻ chia cùng gia đình, bạn bè, cộng đồng cũng là cách để tạo nên giá trị sống đáng quý. Hơn nữa, không ngừng học hỏi, hoàn thiện bản thân và sống trách nhiệm với chính mình và xã hội là điều cần thiết để cuộc đời trở nên ý nghĩa hơn. Như vậy, sống ý nghĩa không chỉ mang lại niềm hạnh phúc cho bản thân mà còn góp phần làm cho cuộc đời này tươi đẹp hơn.
 

.

Câu 2 
Bài thơ “Áo cũ” của Lưu Quang Vũ là một khúc ca đầy xúc động, gợi lên những kỷ niệm thân thương và tình yêu sâu sắc dành cho gia đình, đặc biệt là người mẹ. Bài thơ mở đầu bằng hình ảnh chiếc áo cũ – một biểu tượng của ký ức và thời gian. “Áo cũ rồi, mỗi ngày thêm ngắn” là lời nhắc nhở về sự trôi đi của thời gian, cũng như những biến đổi không thể tránh khỏi trong cuộc đời. Chiếc áo với “màu bạc hai vai”, “đường khâu tay mẹ vá” không chỉ là vật dụng, mà còn là minh chứng cho sự tảo tần, hi sinh của mẹ, một người luôn âm thầm chăm lo cho con từng chút một.

Qua từng câu thơ, hình ảnh người mẹ hiện lên thật chân thực và xúc động: người mẹ đã già đi, đôi mắt không còn rõ, đôi tay gầy guộc vẫn miệt mài khâu vá áo cho con. Mỗi đường khâu, mỗi mũi chỉ không chỉ là sự cần mẫn mà còn chứa đựng tình yêu thương vô hạn. Câu thơ “Áo dài hơn thấy mẹ cũng già hơn” là một nhận thức đầy cảm động về sự hữu hạn của thời gian, khi con lớn lên cũng là lúc cha mẹ ngày càng yếu đi.

Đặc biệt, bài thơ gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương: “Hãy biết thương lấy những mảnh áo cũ / Để càng thương lấy mẹ của ta”. Tình cảm dành cho chiếc áo cũ chính là biểu hiện của tình yêu thương và sự trân trọng đối với mẹ - người đã hy sinh cả cuộc đời cho con.

Tóm lại, “Áo cũ” không chỉ đơn thuần là câu chuyện về một chiếc áo mà còn là lời nhắc nhở mỗi người về sự tri ân, về giá trị của những điều giản dị nhưng thiêng liêng trong cuộc sống. Qua bài thơ, Lưu Quang Vũ đã chạm đến trái tim người đọc bằng những lời thơ mộc mạc nhưng thấm đẫm tình người.

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích trên.
    •    Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Câu 2: Xác định nội dung chính của đoạn trích.
    •    Nội dung chính: Đoạn trích bàn luận về ý nghĩa của cái chết trong cuộc sống, coi đó như một lời nhắc nhở con người về cách sống ý nghĩa hơn, biết trân trọng, yêu thương, và cư xử thiện chí với những người xung quanh khi họ còn hiện diện. Đồng thời, cái chết cũng giúp con người suy ngẫm về những giá trị nhân văn và tránh khỏi sự ích kỷ, tham lam.

Câu 3: Xác định và nêu hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng biện pháp tu từ trong đoạn (7).
    •    Biện pháp tu từ được sử dụng:
    1.    Ẩn dụ: So sánh đời sống con người với “một cánh đồng,” và cái chết với “một cánh đồng bên cạnh.”
    2.    So sánh: So sánh cái chết với trải nghiệm “đến thăm những khu phố cổ ở Stockhome.”
    •    Hiệu quả nghệ thuật:
    •    Ẩn dụ: Tạo cách hình dung trực quan, sâu sắc, giúp người đọc nhận thức rằng cái chết không phải là sự kết thúc mà có thể là sự chuyển tiếp sang một hành trình mới.
    •    So sánh: Gần gũi hóa khái niệm về cái chết, gợi ra sự tò mò và hy vọng, làm giảm bớt nỗi sợ hãi thường trực trong suy nghĩ của con người.

Câu 4: Tác giả bài viết cho rằng cái chết chứa đựng điều gì? Anh/chị có đồng tình với ý kiến ấy không? Vì sao?
    •    Ý kiến của tác giả: Cái chết chứa đựng lời nhắc nhở con người hãy sống tốt hơn, ý thức sâu sắc hơn về cách đối xử với những người xung quanh và những giá trị nhân văn trong cuộc sống.
    •    Ý kiến cá nhân:
Tôi đồng tình với ý kiến của tác giả.
    •    Lý do:
    1.    Cái chết thường làm con người suy ngẫm về giá trị của cuộc sống, khiến họ trân trọng hơn từng khoảnh khắc và từng mối quan hệ.
    2.    Những mất mát đau thương nhắc nhở chúng ta rằng cuộc sống là hữu hạn, và điều quan trọng là sống sao cho ý nghĩa và thiện chí, tránh những hành xử ích kỷ hoặc tiêu cực.

Câu 5: Thông điệp ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra từ văn bản là gì? Vì sao?
    •    Thông điệp: Hãy sống yêu thương, trân trọng và cư xử tốt với những người xung quanh khi họ còn hiện diện, vì cái chết là một lời nhắc nhở để chúng ta không quên đi những giá trị nhân văn cốt lõi.