

HOÀNG HUYỀN ANH
Giới thiệu về bản thân



































Câu 1: - Em có đồng ý với ý kiến.
- Giải thích: Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là thắng lợi oanh liệt, đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam và mở ra thời kì chiến tích huy hoàng của những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ách nô lệ của thực dân phong kiến phương Bắc.
+ Cuộc khởi nghĩa của hai Bà là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do phụ nữ lãnh đạo.
+ Cuộc khởi nghĩa nổ ra làm chấn động cả cõi Nam.
+ Từ trong ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy tỏa ra chân lý lịch sử “Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng tự mình đã dựng nên, làm chủ đất nước và số phận mình.
+ Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là sự kết tinh của cả một quá trình đấu tranh lâu dài, khi thì âm thầm, lúc thì lại công khai của nhân dân Việt Nam. Đây là một phong trào nổi dậy của toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ.
+ Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1000 năm Bắc thuộc.
+ Hai Bà Trưng đã dựa vào nhân dân khôi phục lại sự nghiệp cũ của vua Hùng. Cuộc khởi nghĩa là sự phủ nhận hiên ngang cường quyền của các triều đại phương Bắc coi các dân tộc xung quanh là “Man Di” (“man tộc”, “man rợ” hay “mọi rợ”), thuộc quốc buộc phải phục tùng “thiên triều”, “thiên tử”, phủ nhận tư tưởng “tôn quân, đại thống nhất”.
+ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ là lãnh đạo khởi nghĩa, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam – Bắc, Việt – Hán. Vì vậy, việc Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phần nào đã giúp nâng cao vị thế của phụ nữ xưa trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.
Tục ngữ có câu: ” Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Quả đúng không sai, từ xa xưa, phụ nữ Việt Nam đã được Bác Hồ ngợi ca với 8 chữ vàng: ” Anh hùng – Bất khuất – Trung Hậu – Đảm Đang”. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một trang sử vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó làm rạng rỡ dân tộc ta nói chung và làm vẻ vang cho phụ nữ nói riêng.
Câu 2: Là một học sinh, để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, em cần:
+ Chủ động tìm hiểu các tư liệu lịch sử, pháp luật Việt Nam, pháp luật quốc tế,… để có nhận thức đúng đắn về vấn đề: chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông.
+ Quan tâm đến đời sống chính trị - xã hội của địa phương, đất nước.
+ Thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đặc biệt là các chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề chủ quyền biển, đảo; đồng thời vận động mọi người xung quanh cùng thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
+ Phê phán, đấu tranh với những hành vi xâm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam; những hành vi đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc;
+ Tích cực tham gia, hưởng ứng các phong trào bảo vệ chủ quyền biển đảo, ví dụ như: “Vì Trường Sa thân yêu”, “Góp đá xây Trường Sa”, “Đồng hành cùng ngư dân trẻ ra khơi”, “Tuổi trẻ hướng về biển, đảo của Tổ quốc”…
3
2
1
Trong nhịp chảy không ngừng của thời đại hội nhập, khi những giá trị vật chất lên ngôi và văn hóa ngoại lai ngày càng xâm thực sâu rộng, câu hỏi về việc gìn giữ và bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống lại trở thành tiếng chuông cảnh tỉnh đầy thiết tha. Những giá trị văn hóa được ông cha ta hun đúc qua hàng nghìn năm không chỉ là di sản, mà còn là cội nguồn căn tính của dân tộc, là nền tảng tinh thần giúp con người định vị bản thân trong thế giới biến động. Bởi thế, bàn về việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống không phải là câu chuyện của quá khứ, mà chính là nhiệm vụ sống còn trong hiện tại.
Gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống là hành động trân trọng, duy trì và phát huy những nét đẹp đã được hình thành và lưu truyền qua nhiều thế hệ: từ tiếng mẹ đẻ, phong tục tập quán, lễ hội dân gian, trang phục, đến đạo lý ứng xử, tinh thần “uống nước nhớ nguồn”. Đây không chỉ là sự bảo tồn vật thể, mà còn là gìn giữ tinh thần sống, cốt cách và tâm hồn dân tộc. Tuy nhiên, trong nhịp sống hiện đại hôm nay, không khó để nhận ra những biểu hiện lệch lạc: giới trẻ chạy theo các trào lưu phi văn hóa, lãng quên tiếng Việt chuẩn mực, thờ ơ với ngày Tết cổ truyền hay xem thường trang phục dân tộc như áo dài – biểu tượng vừa truyền thống, vừa thời thượng.
Trước hết, việc gìn giữ văn hóa truyền thống là bảo vệ bản sắc dân tộc giữa muôn vàn sắc màu hội nhập. Trong dòng chảy toàn cầu hóa, các nền văn hóa va đập, giao thoa, dễ khiến người ta bị cuốn theo cái mới mà lãng quên những giá trị cũ. Thế nhưng, chỉ những dân tộc biết giữ lấy bản sắc riêng mới có thể tồn tại vững vàng trong cuộc chơi lớn của thế giới. Hãy nhìn vào Nhật Bản – một cường quốc công nghệ nhưng vẫn giữ được tinh thần võ sĩ đạo, những nghi lễ trà đạo và tinh thần tôn sư trọng đạo đầy sâu sắc. Ngược lại, nếu chúng ta buông lỏng, dần đánh mất tiếng mẹ đẻ, không còn trân trọng ngày Tết cổ truyền, coi nhẹ áo dài – thì đó là khi nền văn hóa Việt Nam đánh mất chính mình. Việc giữ gìn bản sắc không chỉ để khẳng định “tôi là ai” giữa cộng đồng quốc tế, mà còn để bảo vệ căn cước của cả một dân tộc đã từng vượt qua biết bao thăng trầm lịch sử.
Thứ hai, gìn giữ văn hóa truyền thống là duy trì những giá trị đạo đức cốt lõi của con người Việt. Văn hóa không chỉ là hình thức – trang phục, lễ hội – mà còn là phần hồn ẩn sâu trong cách sống, cách nghĩ, cách đối nhân xử thế. Trong truyền thống Việt Nam, lòng hiếu thảo, sự thủy chung, tinh thần đoàn kết là những đức tính luôn được đề cao. Tuy nhiên, ngày nay, không hiếm thấy cảnh con cái sống thờ ơ với cha mẹ, người trẻ coi thường giá trị đạo lý truyền thống. Một bộ phận thanh thiếu niên sống thực dụng, chỉ chạy theo cái lợi trước mắt mà đánh mất lẽ sống nhân văn. Giữ gìn văn hóa, vì vậy, cũng là giữ lấy những nguyên tắc đạo đức giúp con người sống tử tế, sống có nghĩa, sống biết đặt mình trong mối quan hệ với cộng đồng và lịch sử.
Thứ ba, người trẻ hôm nay cần là chủ thể năng động trong việc bảo tồn và lan tỏa văn hóa truyền thống. Giữ gìn văn hóa không có nghĩa là giữ khư khư những gì đã cũ, mà là biết cách làm mới, “kích hoạt” tinh thần truyền thống trong hình thức hiện đại. Rất nhiều bạn trẻ đang làm được điều đó. Nhóm "Sử Talk" của sinh viên đại học với các video lịch sử ngắn gọn, sáng tạo, hay dự án "Việt Sử Kiêu Hùng" đã khiến giới trẻ mê mẩn với những thước phim hoạt hình đậm đà tinh thần Việt. Những bạn trẻ ấy đang chứng minh rằng: văn hóa truyền thống hoàn toàn có thể hòa nhịp với thời đại nếu được tiếp cận bằng một tinh thần đổi mới và niềm đam mê chân thành.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc bảo vệ văn hóa truyền thống không có nghĩa là khước từ những cái mới, mà là lựa chọn thông minh những gì phù hợp với cốt lõi văn hóa Việt. Việc này vừa khẳng định bản lĩnh dân tộc, vừa là chìa khóa giúp ta không bị hòa tan giữa muôn trùng bản sắc nhân loại.
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay đang đánh mất mình trong việc chạy theo xu hướng sống “tây hóa”, xa rời truyền thống, thậm chí có người không còn hiểu ý nghĩa của ngày giỗ Tổ Hùng Vương hay không còn giữ thói quen chào hỏi, xưng hô đúng mực. Đó là hệ quả của sự thiếu hiểu biết, thiếu tự hào và thiếu định hướng từ môi trường giáo dục và gia đình.
Là một người trẻ, tôi hiểu rõ rằng sự phát triển bền vững của đất nước không thể tách rời việc giữ gìn cội nguồn. Tôi chọn cho mình cách sống biết ơn lịch sử, tìm về các giá trị văn hóa qua sách, nhạc truyền thống, chủ động lan tỏa vẻ đẹp của văn hóa Việt đến bạn bè quốc tế. Từ những điều nhỏ nhất như giữ cách chào hỏi đúng mực, viết tiếng Việt không sai chính tả, đến việc học và tự hào về lịch sử dân tộc – tôi đang tập sống như một người trẻ có gốc rễ, có trách nhiệm với văn hóa mà mình được thừa hưởng.
Gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm của mỗi cá nhân, mà là nghĩa vụ của toàn xã hội, của thế hệ hôm nay đối với những thế hệ mai sau. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Dân tộc nào cũng phải giữ gìn nền văn hóa của dân tộc đó, giữ gìn bản sắc văn hóa, giữ gìn những giá trị truyền thống quý báu của mình." Chỉ khi chúng ta biết trân trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc, chúng ta mới có thể vững bước trên con đường phát triển, đồng thời giữ được bản sắc, sức mạnh và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam trong thế giới hiện đại.
Trong bài thơ Chân quê, Nguyễn Bính đã khắc họa nhân vật “em” như một biểu tượng cho sự thay đổi của người con gái quê giữa nhịp sống hiện đại và truyền thống. “Em” từng là hiện thân của nét đẹp dịu dàng, mộc mạc – người con gái thôn quê với “cái yếm lụa sồi”, “cái khăn mỏ quạ”, “cái quần nái đen”. Thế nhưng, từ sau khi đi tỉnh về, em xuất hiện với “khăn nhung, quần lĩnh rộn ràng”, “áo cài khuy bấm”, khiến chàng trai ngỡ ngàng đến xót xa thốt lên: “em làm khổ tôi!”. Qua sự thay đổi ấy, tác giả không chỉ thể hiện nỗi tiếc nuối cho vẻ đẹp dân dã đang dần phai nhạt, mà còn phản ánh một thực tế: cái mới, cái hiện đại đang len lỏi, làm lu mờ bản sắc truyền thống. Hình ảnh “hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là một ẩn dụ giàu giá trị biểu cảm, cho thấy chất quê – cái hồn làng quê – đã không còn nguyên vẹn trong em. Như vậy, nhân vật “em” không chỉ đại diện cho cá nhân mà còn là hình ảnh hoá của một lớp người trong xã hội đương thời, đứng giữa lựa chọn giữ gìn truyền thống hay chạy theo cái mới. Qua đó, bài thơ đặt ra một thông điệp quan trọng: hiện đại đến đâu, con người vẫn cần biết trân trọng và giữ gìn những gì thuộc về cội nguồn văn hóa dân tộc.
Tác phẩm Chân quê gửi gắm rất nhiều thông điệp hay nhưng thông điệp sâu sắc nhất đối với em chính là mỗi chúng ta cần có ý thức bảo vệ, giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, dân tộc. Trước hết, đây là một thông điệp rất ý nghĩa và đáng suy ngẫm trong bối cảnh xã hội hiện đại đang ngày càng thay đổi. Sở dĩ em lựa chọn thông điệp này là bởi nó nhấn mạnh vai trò quan trọng của cội nguồn văn hóa trong việc hình thành nhân cách con người. Hơn nữa, khi con người chạy theo cái mới mà quên mất nét đẹp xưa, thì bản sắc dân tộc sẽ dần bị mai một. Vì vậy, việc gìn giữ sự mộc mạc, giản dị, chân chất không chỉ là gìn giữ ký ức cá nhân mà còn là gìn giữ linh hồn của cả một cộng đồng. Qua thông điệp này, tác giả thể hiện thái độ trân trọng và tiếc nuối với vẻ đẹp truyền thống đang bị phai nhòa. Từ đó, bài thơ nhắc nhở mỗi người hãy sống hiện đại một cách có chọn lọc, luôn biết nâng niu và gìn giữ những giá trị quê hương bền vững theo thời gian.
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ “Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là ẩn dụ. Cụ thể, hình ảnh “hương đồng gió nội” không chỉ gợi lên khung cảnh quen thuộc của làng quê, mà còn ẩn dụ cho vẻ đẹp mộc mạc, chân chất và giản dị – những phẩm chất đặc trưng của người con gái quê. Qua đó góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho hình ảnh thơ. Đồng thời, hình ảnh đó cũng cho thấy sự đổi thay của em sau một lần đi tỉnh, như thể em đã dần đánh mất những nét đẹp truyền thống đáng quý. Từ đó, tác giả bộc lộ thái độ tiếc nuối và trăn trở trước sự phai nhạt của chất quê trong tâm hồn người con gái, từ đó bày tỏ niềm trân trọng đối với vẻ đẹp giản dị , thuần hậu của người phụ nữ thôn quê.
Trong bài thơ tác giả liệt kê 2 kiểu loại trang phục, lần lượt đại diện cho thành thị (trang phục của tỉnh) và nông thôn (trang phục của quê).
- Trang phục của tỉnh: khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm.
- Trang phục của quê: yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen.
Ngoài ra nó còn đại diện cho sự đối lập giữa vẻ trang nhã của thành thị và sự giản dị của nông thôn.
Nhan đề Chân quê gợi cho em cảm giác về chất quê mộc mạc, giản dị, chân chất, thật thà của những con người sống ở nông thôn.