

Vũ Anh Đức
Giới thiệu về bản thân



































Trong xã hội hiện đại, khi con người ngày càng bị cuốn vào lối sống nhanh, thực dụng và toàn cầu hóa, việc gìn giữ và bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống trở thành một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Bởi lẽ, văn hóa truyền thống là cội nguồn tạo nên bản sắc dân tộc, là linh hồn của mỗi con người Việt Nam.
Văn hóa truyền thống bao gồm những giá trị vật thể và phi vật thể như tiếng nói, trang phục, lễ hội, phong tục, lối sống… Đó là kết quả của quá trình lịch sử lâu dài, được ông cha ta xây dựng và gìn giữ. Những giá trị ấy góp phần định hình nhân cách, lối sống và niềm tự hào dân tộc cho mỗi người. Tuy nhiên, trước làn sóng văn hóa ngoại lai, không ít người – đặc biệt là giới trẻ – đang dần quay lưng với văn hóa truyền thống. Sự thờ ơ, coi nhẹ truyền thống khiến nhiều giá trị tốt đẹp dần mai một.
Vì vậy, việc giữ gìn văn hóa truyền thống không có nghĩa là từ chối cái mới, mà là biết cách chọn lọc và hòa nhập một cách có bản lĩnh. Mỗi người cần có ý thức bảo vệ và phát huy những nét đẹp truyền thống qua những hành động cụ thể như: sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, mặc trang phục truyền thống vào dịp lễ Tết, tham gia gìn giữ lễ hội quê hương, tôn trọng và học hỏi những tri thức dân gian. Gia đình, nhà trường và xã hội cũng cần phối hợp giáo dục văn hóa truyền thống cho thế hệ trẻ từ sớm.
Gìn giữ văn hóa truyền thống chính là giữ gìn gốc rễ dân tộc. Trong cuộc sống hiện đại, nếu biết trân trọng và phát huy những giá trị ấy, chúng ta không chỉ bảo vệ được bản sắc dân tộc mà còn góp phần đưa văn hóa Việt Nam vươn tầm thế giới.
Trong bài thơ Chân quê, nhân vật “em” là hình ảnh tiêu biểu cho người con gái quê đang dần thay đổi khi tiếp xúc với cuộc sống thị thành. Sau chuyến đi tỉnh, “em” trở về với khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm – khác hẳn vẻ đẹp mộc mạc xưa kia với áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen. Sự thay đổi ấy khiến nhân vật trữ tình không khỏi tiếc nuối và lo lắng. Qua hình ảnh “em”, Nguyễn Bính bày tỏ nỗi trăn trở trước sự mai một của vẻ đẹp truyền thống, đồng thời gửi gắm mong muốn giữ gìn nét đẹp chân quê giản dị, thuần hậu. Nhân vật “em” không chỉ là một cô gái cụ thể mà còn là biểu tượng cho lớp người trẻ trước làn sóng đô thị hóa, đang đứng giữa sự lựa chọn giữa cái mới hiện đại và cái cũ truyền thống.
Bài thơ gửi gắm thông điệp về sự trân trọng vẻ đẹp mộc mạc, thuần khiết của con người và cuộc sống thôn quê, đồng thời bày tỏ nỗi tiếc nuối, lo âu trước sự đổi thay của con người khi chạy theo lối sống thị thành.
“Hương đồng gió nội” là hình ảnh ẩn dụ cho vẻ đẹp mộc mạc, giản dị, thuần khiết của người con gái quê .
Việc “bay đi ít nhiều” không chỉ là sự biến mất dần của mùi hương mà còn ngụ ý sự phai nhạt của những phẩm chất truyền thống .
Câu thơ thể hiện một cách tinh tế và đầy tiếc nuối nỗi buồn của nhân vật trữ tình khi chứng kiến sự thay đổi ở người con gái mình yêu – từ thuần hậu, chân quê sang kiểu cách, xa lạ.
Khăn nhung,quần lĩnh ,áo cài khuy bấm,cái yếm lụa sồi,dây lưng đũi nhuộm,áo tứ thân,khăn mỏ quạ,quần nái đen
- Khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm: là những trang phục mang hơi hướng thành thị,
-Yếm lụa sồi, dây lưng đũi, áo tứ thân, khăn mỏ quạ, quần nái đen: là những trang phục truyền thống của người phụ nữ nông thôn .
Chân quê là cách nói giản dị, mộc mạc, thể hiện vẻ đẹp thuần phác, tự nhiên, không cầu kỳ, không pha tạp của người nông thôn
thể thơ lục bát
câu 1: quần thể di tích Cố Đô Huế
câu 2: thuyết minh , biểu cảm , miêu tả câu 3 : cung cấp chi tiết các thông tin về lịch sử kiến thức , văn hoá các quần thể Cố Đô Huế
câu 4: tác dụng : tăng tính trực quan sinh động giúp người đọc dễ hình dung và cảm nhận vẻ đẹp của Cố Đô Huế , gợi cảm xúc và ấn tượng sâu sắc về giá trị lịch sử và văn hoá của di tích làm cho văn bản hấp dẫn và thu hút hơn , tạo sự kết nối mạnh mẽ giữa nội dung chữ viết và hình ảnh thực tế
câu 5 : quần thể Di tích lịch sử Cố Đô Huế là di sản văn hoá quý giá mang đậm đâu ấn lịch sử Việt Nam . đọc văn bản em cảm nhận dc vẻ đẹp cổ kính , uy nghiêm của kinh thành Huế . Cố Đô Huế ko chỉ là 1 di tích lịch sử mà còn là biểu tượng văn hoá là bản sắc dân tộc .
Thay vì diễn tả nỗi nhớ một cách thông thường, câu thơ sử dụng hình ảnh “nát cả ruột gan” – một sự diễn đạt đầy tính hình ảnh và cảm giác – để biểu hiện nỗi nhớ da diết và đau đớn đến tận cùng.
Các dòng thơ “Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa,/ Bằng con chẫu chuộc thôi.” gợi lên một cảm giác tự ti và sự bé nhỏ của cô gái trong bối cảnh xã hội phong kiến đầy bất công. Việc so sánh bản thân với những con vật nhỏ bé như bọ ngựa và chẫu chuộc cho thấy cô gái ý thức rõ sự yếu ớt, không có quyền lực của mình trước những định kiến và ràng buộc xã hội. Hình ảnh này còn phản ánh sự cô đơn và bất lực khi cô không thể tự quyết định số phận của mình, phải chịu cảnh bị ép buộc, chèn ép. Tuy nhiên, cách cô gái tự ví mình cũng ẩn chứa sự cam chịu và một chút chua xót, như thể cô đã chấp nhận thân phận nhỏ bé của mình. Từ đó, người đọc cảm nhận được sự thương cảm, đồng cảm với nỗi niềm đau đớn và khát khao được giải thoát khỏi thực tại của cô gái.