Lê Thùy Dương

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Lê Thùy Dương
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

"Uống nước nhớ nguồn" là một đạo lí truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, nhắc nhở mỗi người phải biết ơn những người đi trước – những người đã vất vả, hi sinh để đem lại cuộc sống no ấm, hạnh phúc cho thế hệ sau. Việc tôn trọng đạo lí này không chỉ thể hiện lòng biết ơn mà còn là cách gìn giữ những giá trị văn hóa sâu sắc của dân tộc.

Cuộc sống hôm nay mà chúng ta đang hưởng thụ là kết quả của bao công lao, hi sinh của ông bà, cha mẹ, các anh hùng liệt sĩ và biết bao người lao động. Nếu không có sự đấu tranh bền bỉ của cha ông để bảo vệ đất nước, nếu không có bàn tay cần cù của người nông dân, người công nhân… thì chúng ta sẽ không thể có được cuộc sống như hiện tại. Bởi vậy, tôn trọng đạo lí "Uống nước nhớ nguồn" là biết trân trọng công lao ấy và sống sao cho xứng đáng với những gì mình được thừa hưởng.

Người biết "Uống nước nhớ nguồn" là người sống có tình nghĩa, có đạo đức. Họ không bao giờ quên cội nguồn, luôn quan tâm, giúp đỡ người thân, biết ơn thầy cô, và kính trọng những người đi trước. Họ thường xuyên tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa như thăm viếng nghĩa trang liệt sĩ, giúp đỡ người già neo đơn, chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ… Những hành động đó giúp xã hội thêm gắn kết và nhân văn hơn.

Tôn trọng đạo lí "Uống nước nhớ nguồn" còn giúp con người sống có trách nhiệm hơn với bản thân và cộng đồng. Từ lòng biết ơn, chúng ta sẽ cố gắng học tập, lao động, cống hiến để nối tiếp truyền thống và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.

Tóm lại, "Uống nước nhớ nguồn" không chỉ là lời nhắc nhở về lòng biết ơn mà còn là ngọn đèn soi sáng đạo đức, lối sống của mỗi con người Việt Nam. Tôn trọng và thực hiện đạo lí này là cách để ta gìn giữ truyền thống quý báu của dân tộc và sống xứng đáng với những gì cha ông để lại.

Khiêm tốn là một trong những đức tính quý báu của con người, thể hiện ở thái độ sống không tự cao, không khoe khoang, luôn biết lắng nghe, học hỏi và tôn trọng người khác. Người khiêm tốn là người hiểu rõ giá trị bản thân nhưng không lấy đó làm điều để tự mãn, mà luôn giữ thái độ nhã nhặn, chân thành và cầu tiến.

Khiêm tốn không có nghĩa là hạ thấp bản thân, mà là biết đặt mình ở đúng vị trí, không kiêu ngạo dù đạt được thành công. Những người khiêm tốn thường được mọi người yêu quý, tin tưởng và dễ thành công trong cuộc sống vì họ không ngừng học hỏi, sửa mình và hoàn thiện bản thân.

Bác Hồ là một tấm gương sáng về đức tính khiêm tốn. Dù là Chủ tịch nước, là vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Bác vẫn sống giản dị, gần gũi với nhân dân, luôn học hỏi và tôn trọng ý kiến của mọi người. Chính sự khiêm tốn ấy đã khiến Bác trở thành hình mẫu lý tưởng được cả thế giới ngưỡng mộ.

Khiêm tốn giúp con người trưởng thành và gắn kết với nhau trong xã hội. Một người có tài năng mà không biết khiêm tốn dễ rơi vào chủ quan, tự mãn và bị người khác xa lánh. Ngược lại, người biết khiêm tốn sẽ nhận được sự yêu mến, giúp đỡ và tạo ra nhiều cơ hội tốt trong cuộc sống.

Tóm lại, khiêm tốn là biểu hiện của người có đạo đức, có trí tuệ và bản lĩnh. Mỗi người chúng ta cần rèn luyện đức tính này mỗi ngày để trở thành người tốt hơn và góp phần xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái.

Giản dị là một phẩm chất tốt đẹp của con người, thể hiện trong lối sống, cách cư xử, ăn mặc, nói năng và cả suy nghĩ. Người sống giản dị không cầu kỳ, không phô trương, không chạy theo hình thức hay vật chất. Họ sống gần gũi, chân thành và luôn giữ cho mình một tinh thần nhẹ nhàng, thanh thản.

Giản dị không có nghĩa là sống nghèo nàn hay xuề xòa, mà là biết lựa chọn điều phù hợp với bản thân và hoàn cảnh. Một người giản dị sẽ không cần đến những thứ hào nhoáng để thể hiện bản thân, mà để người khác cảm nhận được giá trị thật từ nhân cách và hành động của mình. Chẳng hạn, Bác Hồ kính yêu của chúng ta là tấm gương sáng ngời về lối sống giản dị. Từ cách ăn mặc đến nơi ở, từ lời nói đến việc làm, tất cả đều toát lên sự khiêm nhường, mộc mạc mà vô cùng cao quý.

Sống giản dị giúp con người thanh thản, nhẹ nhàng và tập trung vào những điều quan trọng trong cuộc sống. Nó giúp ta tránh khỏi những bon chen, đua đòi không cần thiết, biết trân trọng những điều bình dị và sống chân thật với chính mình.

Tóm lại, giản dị là lối sống lành mạnh, là biểu hiện của người có đạo đức, có trí tuệ và trái tim biết yêu thương. Giữ cho mình sự giản dị trong cuộc sống là cách để ta sống đẹp hơn, ý nghĩa hơn mỗi ngày.

a) Tỉ lệ phần trăm lượng cam tiêu thụ được là 100−(20+17,5+35,5)=27%

b) Do 35,5>27>20>17,5 nên hai loại quả có lượng tiêu thụ nhiều nhất là quýt và cam.

c) Tổng lượng cam và bưởi tiêu thụ được là 27+20=47%.

d) 135 kg cam bằng 27% toàn bộ số quả bán được nên 100% số quả bán được là:

     135:27%=500 kg.

a) Tỉ lệ phần trăm lượng cam tiêu thụ được là 100−(20+17,5+35,5)=27%

b) Do 35,5>27>20>17,5 nên hai loại quả có lượng tiêu thụ nhiều nhất là quýt và cam.

c) Tổng lượng cam và bưởi tiêu thụ được là 27+20=47%.

d) 135 kg cam bằng 27% toàn bộ số quả bán được nên 100% số quả bán được là:

     135:27%=500 kg.

a) Tỉ lệ phần trăm lượng cam tiêu thụ được là 100−(20+17,5+35,5)=27%

b) Do 35,5>27>20>17,5 nên hai loại quả có lượng tiêu thụ nhiều nhất là quýt và cam.

c) Tổng lượng cam và bưởi tiêu thụ được là 27+20=47%.

d) 135 kg cam bằng 27% toàn bộ số quả bán được nên 100% số quả bán được là:

     135:27%=500 kg.

a) Tỉ lệ phần trăm lượng cam tiêu thụ được là 100−(20+17,5+35,5)=27%

b) Do 35,5>27>20>17,5 nên hai loại quả có lượng tiêu thụ nhiều nhất là quýt và cam.

c) Tổng lượng cam và bưởi tiêu thụ được là 27+20=47%.

d) 135 kg cam bằng 27% toàn bộ số quả bán được nên 100% số quả bán được là:

     135:27%=500 kg.

Xét ΔAMB và ΔAMC có:

AB=AC

B^=C^ (do giả thiết ΔABC cân tại A)

MB=MC (do giả thiết M là trung điểm của cạnh BC)

Do đó ΔAMB=ΔAMC (c.g.c).

b) Do giả thiết ME⊥AB(E∈AB);

MF⊥AC(F∈AC) suy ra ΔEMB và ΔFMC là hai tam giác vuông (ở E và F).

Mà MB=MCB^=C^ (chứng minh trong a)).

Do đó ΔEMB=ΔFMC (cạnh huyền-góc nhọn).

Suy ra EB=FC (cạnh tương ứng).

Mà AB=AC nên EA=AB−EB=AC−FC=FA.

c) ΔAEF cân ở A (do EA=FA theo chứng minh trên) nên AEF^=(180∘−A^):2

Tương tự, ΔABC cân ở A (giả thiết) nên ABC^=(180∘−A^):2

Do đó AEF^=ABC^, suy ra EF // BC.

Thay S=100 vào S=πR2 ta được πR2=100.

Suy ra R=100π.

Sử dụng MTCT tính được R=5,641895835...

Cần làm tròn đến hàng phần chục để có độ chính xác d=0,05.

Kết quả là R≈5,6.

Thay S=100 vào S=πR2 ta được πR2=100.

Suy ra R=100π.

Sử dụng MTCT tính được R=5,641895835...

Cần làm tròn đến hàng phần chục để có độ chính xác d=0,05.

Kết quả là R≈5,6.