Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:

Luyện tập SVIP
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Tác giả của tác phẩm Hai chữ nước nhà là ai?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Tác phẩm Hai chữ nước nhà được lấy cảm hứng từ
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Đoạn trích có sự kết hợp của hai phương thức biểu đạt nào là chủ yếu?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Dòng nào nói đúng về giọng điệu chủ đạo của đoạn trích?
Chọn những tiếng được gieo vần với nhau trong đoạn thơ sau.
Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
Chọn cách ngắt nhịp phù hợp cho các dòng thơ sau.
Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Dòng thơ nào cho thấy sự bất lực của người cha trước hoàn cảnh nước mất nhà tan?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Nội dung chính từ dòng 33 đến dòng 44 là gì?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Chọn dòng thơ có sử dụng biện pháp ẩn dụ.
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Việc người cha nhắc đến những vị anh hùng trong lịch sử có mục đích gì?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Dòng thơ nào là lời của người cha mong muốn con hiểu trọng trách cứu nước trên vai con?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Trận chiến nào được nhắc đến trong đoạn trích?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Hình ảnh nào được tác giả sử dụng để mô tả tình cảnh khó khăn của người cha?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Chọn hai dòng thơ có sử dụng phép đối.
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Từ "dư uy" trong dòng thơ "Gươm reo chính khí, nước rền dư uy." có nghĩa là gì?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Chọn dòng thơ có sử dụng điệp từ.
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Biện pháp điệp cấu trúc trong các dòng thơ sau có tác dụng gì?
Con nên nhớ tổ tôn khi trước:/Đã từng phen vì nước gian lao.
Con nay cũng một người trong nước/ Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường.
Con đương độ đầu son tuổi trẻ/ Bước cạnh tranh há để nhường ai?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Sắp xếp các ý sau để thấy rõ mạch cảm xúc được thể hiện đoạn trích.
- Cảm xúc tha thiết, mãnh liệt khi nhấn mạnh trách nhiệm của con là phận nam nhi phải sống sao cho không hổ thẹn với lịch sử, với tổ tiên, với đấng sinh thành.
- Niềm tự hào của người cha khi nhắc con về những chiếc công hào hùng đánh giặc, giữ nước trong lịch sử và bổn phận giữ gìn giang sơn của mỗi thế hệ.
- Nỗi đau xót, khắc khoải của người cha khi bị giặc bắt đưa sang Trung Quốc, đành nhờ con thay mình làm tròn bổn phận với nước nhà.
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Chủ đề của đoạn trích là gì?
HAI CHỮ NƯỚC NHÀ
(Nghĩ lời ông Phi Khanh dặn ông Nguyễn Trãi khi ông bị quân Minh bắt giải sang Tàu)
Trần Tuấn Khải
[Tả cảnh Ải Bắc ảm đạm, cuộc chia li giữa hai cha con và nỗi niềm người cha trước cảnh quân Minh xâm lược, nước mất nhà tan.]
29. Cha xót phận tuổi già sức yếu,
Lỡ sa cơ đành chịu bó tay,
Thân lươn bao quản vũng lầy,
Giang san gánh vác sau này cậy con.
33. Con nên nhớ tổ tôn khi trước:
Đã từng phen vì nước gian lao.
Bắc Nam bờ cõi phân mao,
Ngọn cờ độc lập máu đào còn dây.
37. Kìa Trưng Nữ ra tay buồm lái,
Phận liễu bồ xoay với cuồng phong,
Giết giặc nước, trả thù chồng,
Nghìn thu tiếng nữ anh hùng còn ghi.
41. Kìa Hưng Đạo gặp khi quốc biến;
Vì giống nòi huyết chiến bao phen.
Sông Bạch Đằng phá quân Nguyên.
Gươm reo chính khí, nước rền dư uy.
45. Giở lịch sử gươm kia còn tỏ,
Mở dư đồ đất nọ chưa tan.
Giang san này vẫn giang san,
Mà nay sẻ nghé tan đàn vì ai?
49. Con nay cũng một người trong nước,
Phải nhắc câu “Gia, Quốc” đôi đường,
Làm trai hồ thỉ bốn phương,
Sao cho khỏi thẹn với gương Lạc Hồng.
53. Thời thế có anh hùng là thế,
Chữ vinh hoa sá kể làm chi!
Mấy trang hào kiệt xưa kia,
Hi sinh thân thế cũng vì nước non,
57. Con đương độ đầu son tuổi trẻ,
Bước cạnh tranh há để nhường ai?
Phải nên thương lấy giống nòi,
Đừng tham phú quý mà nguôi tấc lòng,
61. Kiếp luồn cúi, đỉnh chung cũng nhục,
Thân tự do, chiên chúc mà vinh.
Con ơi! Nhớ đức sinh thành,
Sao cho khỏi để ô danh với đời.
(In trong Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, NXB Văn học 1984)
Thông qua lời dặn của người cha trong đoạn trích, thông điệp của văn bản là gì?
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây