Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Tham khảo:
Nghệ An
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bước tới điều hướngBước tới tìm kiếmĐối với các định nghĩa khác, xem Nghệ An (định hướng).Nghệ AnTỉnh Nghệ AnTên khácHành chínhVùngTỉnh lỵPhân chia hành chínhTổ chức lãnh đạoChủ tịch UBNDHội đồng nhân dânChủ tịch HĐNDChủ tịch UBMTTQChánh án TANDViện trưởng VKSNDBí thư Tỉnh ủyĐịa lýDiện tíchDân số (1/4/2019)Tổng cộngThành thịNông thônMật độDân tộcKinh tế (2019)GRDPGRDP đầu ngườiKhácMã địa lýMã hành chínhMã bưu chínhMã điện thoạiBiển số xeWebsite
Tỉnh |
![]() |
![]() |
Xứ Nghệ |
Bắc Trung Bộ |
Thành phố Vinh |
1 thành phố, 3 thị xã, 17 huyện |
Nguyễn Đức Trung |
83 đại biểu |
Thái Thanh Quý |
Võ Thị Minh Sinh |
Trần Ngọc Sơn |
Tôn Thiện Phương |
Thái Thanh Quý |
Tọa độ: | 19°10′35″B 104°58′38″Đ
16.493,7 km² |
hiệnVị trí tỉnh Nghệ An trên bản đồ Việt Nam |
3.327.791 người[1] |
490.178 người (14,7%) |
2.837.613 người (85,3%) |
190 người/km² |
Kinh, Khơ Mú, Thái, Thổ, H'Mông... |
126.121 tỉ đồng (5,4257 tỉ USD) |
43,08 triệu đồng (1.853 USD) |
VN-22 |
40[2] |
46xxxx-47xxxx |
238 |
37 |
www.nghean.gov.vn |
xts |
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn nhất Việt Nam, thuộc vùng Bắc Trung Bộ.
Trước đây, Nghệ An cùng với Hà Tĩnh có cùng một tên chung là Hoan Châu (trước đời Nhà Lý), Nghệ An châu (đời Nhà Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam). Năm 1976 đến 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh sáp nhập thành một tỉnh- Nghệ Tĩnh. Từ năm 1991, Nghệ Tĩnh lại tách ra thành 2 tỉnh là Nghệ An và Hà Tĩnh.
Mục lục1Địa lý1.1Vị trí địa lý1.2Điều kiện tự nhiên2Hành chính3Dân cư4Lịch sử5Giao thông6Kinh tế – xã hội6.1Công nghiệp6.2Du lịch6.3Xã hội7Thành phố kết nghĩa8Tham khảo9Liên kết ngoàiĐịa lýVị trí địa lýTỉnh Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ, có vị trí địa lý:
Phía đông giáp Biển ĐôngPhía tây giáp tỉnh Xiêng Khoảng, LàoPhía tây nam giáp tỉnh Borikhamxay, LàoPhía tây bắc giáp tỉnh Hủa Phăn, LàoPhía nam giáp tỉnh Hà TĩnhPhía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa.Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Vinh, nằm cách thủ đô Hà Nội 291 km về phía nam.[3] Tỉnh Nghệ An có đường biên giới dài 419 km trên bộ và đường bờ biển ở phía đông dài 82 km.
Điều kiện tự nhiênNghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt là hè và đông. Từ tháng 4 đến tháng 8 dương lịch hàng năm, tỉnh chịu ảnh hưởng của gió phơn tây nam khô và nóng. Vào mùa đông, chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc lạnh và ẩm ướt. Nghệ An có đường biên giới với Lào dài 419 km, là tỉnh có đường biên giới dài trên bộ dài nhất Việt Nam.
Diện tích: 16.490,25 km².[4]Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.670 mm.Nhiệt độ trung bình: 25,2 °C.Số giờ nắng trong năm: 1.420 giờ.Độ ẩm tương đối trung bình: 86-87%.Vĩ độ: 18°33′ đến 19°25′ vĩ bắc.Kinh độ: 102°53′ đến 105°46′ kinh đông.Nghệ An là một tỉnh có đầy đủ địa hình núi cao, trung du, đồng bằng và ven biển. Phía Tây là dãy núi Bắc Trường Sơn. Tỉnh có 10 huyện miền núi, trong số đó 5 huyện là miền núi cao.[5] Các huyện miền núi này tạo thành miền Tây Nghệ An. Có 9 huyện trong số trên nằm trong Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Các huyện, thị còn lại là trung du và ven biển, trong đó Hoàng Mai, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, và Cửa Lò giáp biển.
Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]Bài chi tiết: Lịch sử hành chính Nghệ An
Tỉnh Nghệ An có 21 đơn vị cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện với 460 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 411 xã, 32 phường và 17 thị trấn.[6]
Danh sách các đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Nghệ AnTênDân số (người)2019Hành chính
| TênDân số (người)2019Hành chính
|
Dân số Nghệ An (theo điều tra dân số năm 2019) có 3.327.791 người. Trên toàn tỉnh Nghệ An có nhiều dân tộc cùng sinh sống như người Thái, người Mường bên cạnh dân tộc chính là người Kinh. Cùng thời điểm này, Nghệ An có 37 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống.
Qua kết quả sơ bộ Tổng điều tra, tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, tỉnh Nghệ An có 848.977 hộ với 3.327.791 người và là tỉnh có dân số đông thứ 4 cả nước. Như vậy, sau 10 năm từ 2009 đến 2019, dân số tỉnh Nghệ An đã tăng 415.750 người (dân số năm 2009 là 2.912.041 người), tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-2019 là 1,33%.
Dân cư ở Nghệ An phân bố không đồng đều, tại khu vực các huyện đồng bằng Diễn Châu, Nghi Lộc, Đô Lương, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Nam Đàn, Hưng Nguyên, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò, Hoàng Mai có mật độ cao, hơn 500 người/km2. Đối với các huyện Nghĩa Đàn, Thanh Chương, Quỳ Hợp, Anh Sơn, Tân Kỳ thì mật độ dân số trung bình khá đông, khoảng 130-250 người/km2, nhưng ở những huyện này mật độ cao chỉ tập trung ở các khu vực thung lũng, các nơi ở sâu trong núi thì rất thưa thớt. Các huyện phía Tây có mật độ trên dưới 50 người/km2 như: Quỳ Châu, Con Cuông, Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong đều có mật độ dân số rất thấp, nguyên nhân là do địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, giao thông khó khăn. Trong số các huyện đồng bằng ven biển thì huyện Quỳnh Lưu là đông dân nhất, Thanh Chương là huyện miền núi có dân số lớn nhất, là huyện miền núi duy nhất ở Nghệ An có dân số vượt ngưỡng hơn 250.000 người.
TT | Đơn vị hành chính | Dân số (người) | Mật độ dân số (người/km²) | ||
2009 | 2019 | 2009 | 2019 | ||
Tổng | 2.912.041 | 3.327.791 | 177 | 202 | |
1 | Thành phố Vinh | 303.714 | 339.114 | 2.893 | 3.230 |
2 | Thị xã Cửa Lò | 50.477 | 55.668 | 1.807 | 1.993 |
3 | Thị xã Thái Hoà | 59.962 | 66.127 | 444 | 490 |
4 | Huyện Quế Phong | 62.129 | 71.940 | 33 | 38 |
5 | Huyện Quỳ Châu | 52.637 | 57.813 | 50 | 55 |
6 | Huyện Kỳ Sơn | 69.524 | 80.288 | 33 | 38 |
7 | Huyện Tương Dương | 72.405 | 77.830 | 26 | 28 |
8 | Huyện Nghĩa Đàn | 122.303 | 140.515 | 198 | 228 |
9 | Huyện Quỳ Hợp | 116.554 | 134.154 | 124 | 143 |
10 | Huyện Quỳnh Lưu | 251.694 | 276.259 | 571 | 627 | <...
Tham khảo:
Thái Bình, một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng của Việt Nam, nổi tiếng với những đặc điểm tự nhiên và tài nguyên phong phú.
Tỉnh này có địa hình chủ yếu là đồng bằng thấp, rất thuận lợi cho việc trồng trọt, đặc biệt là sản xuất lúa nước.
Đất đai màu mỡ và hệ thống sông ngòi dày đặc giúp Thái Bình trở thành một trong những vựa lúa lớn của cả nước.
Ngoài ra, Thái Bình cũng có nguồn tài nguyên khoáng sản như khí đốt và dầu mỏ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế của tỉnh.